“Nàng thơ” của Bố

Con trai tôi sinh ra tại Bangkok, một mùa hè bốn năm về trước.

Về sau này, tôi sẽ kể cho nó về “gốc gác Thái Lan” của nó. Tất nhiên, việc sinh ra ở Thái Lan không biến nó thành một người Thái gốc Việt được – nhất là khi nó chỉ ở đó đúng ba tháng rồi về Việt Nam; nhưng tôi muốn con biết Thái Lan là nơi mà bố mẹ nó đã sống quãng thời gian tuyệt vời của tự do tuổi trẻ, rồi sau đó mang thai, hạ sinh và đưa con về Việt Nam; mà mỗi ngày kể từ khi trở về không lúc nào chúng tôi không mong mỏi được quay lại mảnh đất đó.

Thằng bé sinh ngày mùng 7 tháng sáu. Ngay từ trong ngày sinh đã là sự đối ngược với ông bố nó là tôi (mùng 6 tháng bảy). Vì vợ tôi đẻ mổ, vị bác sỹ Thái Lan sau khi tính toán tuần sinh đã đề nghị ngày sinh đó cho vợ chồng tôi. Tôi đồng ý ngay, cũng như chấp nhận ngay việc ông con chắc chắn sẽ xung khắc với mình. Vốn dĩ là một truyền thống gia đình, đàn ông trong nhà tôi mấy đời đều xung khắc, không lấy gì làm hoà thuận cho lắm.

Đó là chưa kể tôi tuổi Mèo, còn ông con tuổi Cún. Vậy đó.

Từ bé nó đã là một đứa trẻ cá tính mạnh, không chịu khuất phục. Tôi nhìn thấy trước tương lai xung khắc nên trong hiện tại, không cách nào khác, tôi cố gắng để yêu nó nhất có thể, khi thằng bé còn đang cần mình.

Sau này lớn lên, thằng bé sẽ dần tiến đến thế giới rộng lớn của nó. Nhưng ngay lúc này đây, có những ngày đi làm về, thằng bé rạng rỡ chạy ra đón; hoặc khi nó ngủ dậy ở nhà ông ngoại mà không thấy tôi sẽ mếu máo đòi tìm tôi bằng được và khi nhìn thấy thì ôm chặt lấy bố vì “sợ bố đi mất”, làm tôi muốn khóc. Frédéric Beigbeder nói mọi ông bố đều giống một gã ngốc hạnh phúc, quả là không sai. Tôi bỗng trở nên uỷ mị từ khi làm bố, có khi chỉ từ một cái ôm ghì của ông con sau vài tiếng không gặp. Chả hiểu sao thấy mình dễ mủi lòng vô cùng.

***

Tôi đã trì hoãn việc có con khá lâu.

Thực tế tôi từng nghĩ mình có thể sẽ không bao giờ làm bố. Và tôi thấy ổn với suy nghĩ đó. Khi ta trẻ hơn, ta thường tiên lượng về cuộc đời mình không hẳn là chính xác. Tôi không có hình mẫu về người bố lý tưởng để noi gương theo, việc mà tôi nghĩ tương đối quan trọng đối với một gã trai trẻ. Ai cũng cần hình mẫu để noi theo, trong trường hợp của tôi thì không như vậy, nên tôi không biết như thế nào là một người bố tốt. Cái suy nghĩ gần như biết chắc mình sẽ là một ông bố tệ không hiểu sao cứ ghim vào đầu tôi như một cách mặc định, vậy nên tôi cố để không trở thành bố càng lâu càng tốt.

Ấy thế mà cuối cùng tôi cũng có con.

Tôi hoàn toàn không chuẩn bị gì để làm bố, kể cả khi đã trở thành. Cho đến tận bây giờ, khi đã có ba đứa con, làm những công việc của một ông bố hàng ngày và vui vẻ với điều đó, tôi tự biết là mình vẫn chưa bao giờ sẵn sàng và hoàn toàn không chuẩn bị gì cả. Tôi cũng chưa từng cố gắng để làm một ông bố “chuyên nghiệp” – theo ý nghĩa là trang bị kiến thức và kỳ năng bài bản, phù hợp với tiêu chuẩn văn minh. Tôi trở thành bố một cách hoàn toàn bản năng, và đương nhiên, phần nhiều vụng về.

Riêng về điều này vợ tôi lại giỏi vô cùng. Nàng tìm hiểu tất cả mọi thứ về mang thai và nuôi dạy trẻ một cách nhẹ nhàng, khoa học. Tôi tin tưởng tuyệt đối, và từ đó dựa dẫm hoàn toàn, vào vợ tôi trong vấn đề con cái. Phụ nữ khi làm mẹ có năng lực siêu nhiên, điều này không thể đúng hơn. Tôi thán phục và cũng không hẳn là ghen tị nhưng chấp nhận một sự thật là các con của tôi yêu mẹ nó hơn nhiều. Tôi hài lòng với mức độ tình yêu mà con dành cho mình, ở vị trí số hai. Cũng không hẳn là tệ.

Nếu tôi trở thành một ông bố tốt, chắc chắn là do vợ tôi huấn luyện và giúp đỡ chứ để tự tôi thì e rằng quá xa vời. Và cũng bởi vì vợ tôi, việc trở thành bố hoá ra không quá đáng sợ như tưởng tượng, bởi cái gì khó nhất thì nàng đã làm hết rồi.

Tuy con tôi yêu mẹ nó hơn, tôi vẫn được hưởng hạnh phúc đầy đủ của một ông bố. Tôi rất hài lòng trước sự tin cậy mà con trai tôi dành cho tôi. Tôi là kiểu chỉ cảm thấy thoả mãn về mặt tình cảm khi người khác tin cậy mình, và càng thích hơn khi sự tin cậy đó đến từ một đứa bé, hay một con mèo – những đối tượng không hề dễ để lấy được sự tin cậy tự nhiên của chúng. Đừng có nghĩ làm một con mèo, hay một đứa bé, tin cậy mình là dễ nhé. Cứ thử mà xem.

Bởi vậy tôi vẫn là một gã ngốc hạnh phúc. Và bởi vậy, từ khi có con, tôi không nghĩ trong cuộc đời này còn có gì quan trọng hơn việc con tôi vui vẻ mỗi ngày (và ăn xong bát cơm).

***

Con trai tôi không tình cờ sinh ra ở Thái Lan. Vì tôi đang đi công tác dài hạn nên chúng tôi nghĩ tốt nhất là sinh ở đó cho dễ xoay xở giữa công việc và gia đình. Thêm nữa, sau hai năm sống ở Thái Lan, chúng tôi thực sự cảm mến đất nước này – nơi đã chữa lành và mang lại rất nhiều kỷ niệm. Nếu cơ hội cho phép chúng tôi còn muốn được tiếp tục sống tại Thái Lan nhiều năm hơn nữa.

Đó là khoảng thời gian tôi cảm thấy mình phát triển nhất trong công việc. Có lẽ không chỉ tôi mà cả team của tôi. Chưa nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam tiến sang thị trường Thái Lan lúc bấy giờ (bây giờ thì đã phổ biến hơn). Hầu hết đội ngũ chúng tôi còn trẻ, chưa vướng bận gia đình, còn sung sức và nhiệt huyết, tất cả đều sục sôi một tinh thần khởi nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài, rất đáng tự hào. Chúng tôi đã sống với nhau, làm việc cùng nhau, vui vẻ với nhau, tiếc nuối với nhau, và hầu hết đều có những kỷ niệm đẹp một thời mang chuông đi đánh xứ người. Tôi đã có nhiều anh em bạn bè bên ngoài công việc sau khi là đồng đội sát cánh với nhau nhiều năm. Những mối quan hệ lành mạnh, tốt đẹp.

Tôi không còn tìm lại được cái nhiệt huyết hồi đó nữa trong các công việc sau này mình làm. Có những thứ chỉ đến một lần, và ở lại mãi.

***

Tôi sống suốt ba năm trong một con ngõ nhỏ vùng rìa Bangkok, để đi lên trung tâm phải qua bốn trạm BTS. Con ngõ này có nhiều dân lao động và nhiều người đạo Hồi sinh sống, hết sức mến khách và thân thiện. Công ty cách đó không xa, mười phút đi bộ là tới. Quán ăn trong ngõ không nhiều nhưng đều phục vụ các món Thái theo kiểu bản địa, chúng tôi vẫn hay ăn trưa ở đó, hoặc khi đi làm về muộn thì là ăn đêm. Tôi sống ở đó đủ lâu, sống lẫn với cuộc sống của người bản địa, nên rất nhanh không còn cảm giác mình là du khách nữa mà đã thực sự sống cuộc sống đời thường trong một cuộc đồng nhỏ những người bản địa.

Có đứa bé Thái sinh ra trong quãng tôi sống ở đó và nhìn nó lớn lên, ít nhất cho đến khi biết đi chập chững. Tôi nhớ bọn mèo hoang ở đó, đêm nào cũng nằm ườn èo trên bờ đê đầu ngõ, không hề sợ hãi những đám người ồn ào nhậu nhẹt bên cạnh. Những hôm trời mưa, chúng lẩn vào bên trong cửa những ngôi nhà ven đường, nhẫn nại nhìn mưa ngoài phố vắng cho đến khi tạnh hẳn để lại vật vờ lao vào màn đêm. Tôi thích một con mèo trắng to lớn ở đó, trông lúc nào cũng lờ đờ và cáu kỉnh, mà có lần tôi mua đồ ở cửa hàng tiện lợi cho nó ăn. Tôi để cả túi hạt mèo ở dưới đất, sáng hôm sau thấy chiếc túi bị rách nát và hạt thì hết sạch. Lũ mèo chắc đã có một bữa no.

Xung quanh khu tôi sống có tương đối đầy đủ tiện ích cơ bản, từ giao thông cho đến mua sắm. Nếu đi bộ trong vòng mười phút, ở khu bên kia nếu lấy công ty tôi làm trung điểm, có rất nhiều điểm thú vị mà chỉ người dân bình thường mới tìm thấy được. Ở đó có quán cơm gà vỉa hè ngon-nhất-Bangkok, do hai cha con người Thái mở bán buổi trưa cho dân văn phòng xung quanh. Người thanh niên xăm kín mình những hình xăm của Thái, rất giang hồ tứ chiếng nhưng thực chất lại cực kỳ tử tế, luôn hết sức cố gắng phục vụ đám khách quen người nước ngoài ồn ào. Quán vỉa hè có món hơi giống cơm gà Hải Nam nhưng ngon hơn nhiều lần, dù cách chế biến vô cùng đơn giản – chỉ có gà được luộc kỹ bằng nước sương, ăn cùng cơm trắng và có nước sốt chế biến riêng. Rất nhiều buổi trưa, niềm vui của dân văn phòng bình thường chúng tôi là ăn cơm gà rồi đi bộ sang một quán cà phê ngay góc đường bên cạnh – quán Bevanda. Quán rất nhỏ chỉ để vừa hai bộ bàn ghế cho lượng khách hữu hạn, nhưng khu vườn xung quanh lại rộng rãi và có nhiều cây nên chúng tôi ngồi đó tán phét giữa buổi trưa mùa hè Bangkok vẫn thấy dễ chịu. Cô chủ quán thân thiện, dễ mến; chị em phụ nữ kháo nhau rằng cô chủ này toàn mặc những chiếc váy giá 20.000 baht, nên hẳn là cô mở quán cà phê cho vui. Nếu đi thêm một đoạn rẽ vào khu dân sinh, chúng tôi cũng tìm được một quán ăn gia đình của người Thái, nơi phục vụ món canh Tom yum xuất sắc. Vì đám khách người Việt đến quá thường xuyên, menu của quán cuối cùng có thêm cả tiếng Việt, và chúng tôi gọi đó là “quán VIP”. Rất không xa quán đó là một khu trung tâm thương mại nhộn nhịp Robinson – nơi chúng tôi hay đi chợ mua đồ ăn vào cuối tuần. Đối diện với khu đó có một quán Vịt Tàu gia truyền nổi danh, có lịch sử cả trăm năm, không gian bên trong cổ xưa đến mức thời gian dường như không trôi đi tại đây nữa. 

Đó là khu tôi sống ở Bangkok – một khu bản địa bình thường thường, và nơi con tôi đã sinh ra – chính xác từ một bệnh viện rất gần nhà, bệnh viện Saint Louis – tuy trông không quá sang trọng nhưng là một bệnh viện trung lưu của người Công Giáo, phải đến khi mấy đứa nhân viên người Thái của tôi nói thì tôi mới biết bệnh viện này không phải phổ thông cho lắm. Đó cũng là lần đầu tôi và vợ trải nghiệm dịch vụ y tế của Thái Lan. Tôi có một tuần trong viện chăm vợ sinh, gần như không phải làm gì vì mọi thứ có y tá và bác sỹ lo cho hết.

***

Thằng bé bị nhẹ cân và thân nhiệt thấp nên bác sỹ cho theo dõi trong lồng kính hai ngày mới trả về. Chỉ khoảng chưa đến ba mươi phút từ khi vợ tôi được kéo vào phòng mổ, có một chiếc xe đẩy trẻ sơ sinh do y tá đưa ra. Lúc chiếc xe đi lướt qua tôi và mẹ vợ, tôi không biết đó là con mình. Tuy vậy, nhìn thấy đứa bé tôi vẫn tò mò đọc thử tên sản phụ trên xe đẩy thì mới biết. Tôi vội vàng báo cho mẹ và chạy theo xe đẩy của y tá đến phòng chăm sóc dành cho trẻ sơ sinh. Trống ngực đập thình thịch. Cho đến mãi lúc đó, tôi vẫn thấy không thể tin nổi. Con tôi đã đến thế giới này.

Thằng bé được đưa vào phòng chăm sóc sau sinh, nơi cũng có vài đứa trẻ khác vừa ra đời. Căn phòng oe oe tiếng trẻ con khóc. Âm thanh vô tội khởi nguồn của sự sống tại căn phòng đó thật là kỳ diệu, khiến ta thổn thức ngay lập tức. Ngay bên cạnh là một đứa bé Thái hồng hào, to gần gấp đôi con tôi. Mẹ tôi nhìn thấy con tôi bị quấn dây rợ y tế theo dõi khắp người, bé như cái kẹo và yếu ớt, gần như bật khóc vì xót cháu. Cho đến mãi bây giờ khi con tôi đã có thể chất khoẻ mạnh, bà ngoại vẫn hay nhắc lại và xót xa vì nó bé quá khi nằm trong lồng kính. 

Chúng tôi ở viện gần một tuần, được chăm sóc chu đáo. Trên đường đưa con về khu nhà tôi sống, rất nhiều hàng xóm người Thái Lan chúc mừng chúng tôi. Con ngõ nhỏ có thêm một em bé. 

***

Không lâu sau đó tôi nhận một nhiệm vụ mới từ công ty nên trở về Việt Nam. 

Một năm sau, thế giới đón tin dữ từ Trung Quốc với đại dịch covid. 

Tôi không hề biết rằng cuộc chia tay đất nước Thái Lan sẽ kéo dài như thế. Tôi và vợ cứ đinh ninh với điều kiện visa dễ dàng và khoảng cách địa lý thuận lợi, nếu thích thì vài tháng chúng tôi sẽ đi Thái một lần cũng được. Tôi muốn đưa con tôi quay về Thái Lan thường xuyên. Tuy vậy, dại dịch ập đến khiến thế giới đóng cửa với nhau, cái hẹn với Thái Lan mất vài năm mới thực hiện được. 

Khi con tôi bốn tuổi. 

Nghe tin Thái Lan mở cửa du lịch trở lại, tôi và vợ lập tức đăng ký đi ngay.

***

Mẹ ruột tôi rất yêu con tôi vì nó giống tôi như đúc. Tóc xoăn, thuận tay trái, lông mày xếch di truyền, không chệch đi đâu được. Con tôi cũng là một cat person giống tôi. Tình yêu của một người bà, có phải không, là sự đánh thức lần nữa mang tính hoài niệm của tình mẫu tử mà họ từng có khi lần đầu ôm con mình ở tuổi thanh xuân. Đến cả tôi sau này, tôi cũng nghĩ sẽ thật là thú vị khi về già được ôm một thằng “Mìn bé” lần nữa.

Mẹ tôi đã ở cái tuổi cô đơn với cuộc đời. Nhưng mẹ từng kể cho tôi những lần thằng bé đi chợ cùng bà, tay lủng lẳng cái túi đựng đồ chơi mang theo. Tôi biết lúc đó mẹ tôi bớt cô đơn đi nhiều lắm, dù đi bên cạnh mình chỉ là một thằng bé vô lo nghĩ. Tôi cũng có cảm xúc như vậy trong một buổi chiều tàn, hai bố con ở trên nhà quá lâu nên xuống dưới chân toà nhà chung cư đi bộ cùng nhau một lúc. Tôi nắm tay thằng bé, cả hai lững thững đi những đoạn rất ngắn, tôi thấy hai cái bóng một cao một thấp thi thoảng trộn lẫn vào nhau. Chính lúc đó, tôi thấy cơ thể mệt mỏi này dãn ra và biết cuộc đời mình bấy lâu nay không còn cô đơn nữa. Có những lúc ta nhận ra con cái có thể giúp ta xoa dịu đi những u buồn tuổi trẻ, theo cái cách mà không một cuộc tình nào có thể làm nổi.

Tôi cũng hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy con trai mình lớn lên từng ngày, có cảm giác như nhìn thấy chính mình ở một chiều không gian khác. Hoá ra mình đã lớn lên như thế, rất nhiều lần tôi tự nói với chính mình như vậy. Tuổi thơ của tôi và con đương nhiên là khác nhau, nhưng có những lúc ở một khoảnh khắc ngọt ngào và huyền hoặc nào đó, nhìn thằng bé cười đùa hoặc lơ đãng chơi những trò chơi của nó, tôi thấy thân thuộc như thể tôi được trở về một vùng trời ký ức vốn đã quá xa xôi nhưng lại đang ở ngay trước mắt. Tôi nhìn thấy tôi.

Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẻ loi
Ta thấy em đang ngồi hát khi rừng về nhiều mây

Vợ tôi vẫn đùa rằng anh coi thằng bé như “nàng Thơ” của mình. Tôi bật cười, nhưng ngẫm ra thì thật đúng. Thằng con tôi có những lúc lơ đễnh rất giống tôi. Một thằng bé thường xuyên lơ đễnh, và vợ tôi gọi nó là “đứa trẻ mơ mộng”. Từ bé tôi đã luôn luôn là đứa trẻ sống trong thế giới riêng của mình. Giờ đây, khi thấy con mình chìm trong thế giới của nó, dù vẫn ở bên cạnh tôi, tôi hoàn toàn hiểu được. Thời của tôi và chị tôi chưa có công nghệ như bây giờ để ghi lại nhiều khoảnh khắc, trái lại tôi muốn lưu giữ càng nhiều càng tốt sự thơ bé của con tôi, nên lúc nào tôi cũng có thể quay và chụp ảnh nó được. Vì quá giống nhau, tôi biết chính xác góc nào chụp thì đẹp, mái tóc của nó phải do đích thân tôi chải và tạo kiểu thì mới đẹp, vì tóc nó xoăn giống tôi.

Có lẽ thằng bé là nàng Thơ của tôi thật.

**

Vậy là khi Thái Lan mở cửa, tôi đưa cả gia đình mình về lại Bangkok. Lần cuối khi rời đi, tôi mang một thằng bé ba tháng tuổi trở về Việt Nam. Lần này khi quay lại, tôi đã là ông bố ba con khi có thêm một em bé mười sáu tháng tuổi nữa – em Đạn. Tranh thủ đợt dịch, và rất nhiều may mắn, chúng tôi đã kịp có thêm một em gái cho Mìn.

Chúng tôi háo hức mãi cho chuyến đi.

Việc nhập cảnh hết sức dễ dàng, hơn tôi tưởng. Các thủ tục tuy có nhiều hơn một chút nhưng chúng tôi không gặp khó khăn nào. Sân bay Suvarnabhumi không nhộn nhịp như trước dịch nhưng vẫn là cái mùi đó và những lộ trình đó. Chúng tôi biết chính xác phải ra đâu để kiểm tra hành lý của mình ở băng chuyền nào, lấy hành lý xong thì ra bên ngoài mua những chiếc sim du lịch của hãng Dtac và xuống dưới một tầng để đến khu vực bắt taxi. Địa điểm đến không đổi, vẫn là khách sạn ở khu tôi từng sống ba năm. Tôi biết ngay những khung đường nào sẽ tắc và đi đường cao tốc sẽ phải trả bao nhiêu baht. Lộ trình từ sân bay về khách sạn, đi qua những toà nhà cao tầng và các khu phức hợp nổi tiếng, tôi hình dung quãng thời gian bay đi bay lại thường xuyên giữa hai thành phố cách nhau gần hai giờ đồng bồ lênh đênh trên mây mà mình từng trải qua, chỉ giống như một quá khứ gần.

Sau bốn năm mọi thứ vẫn vậy. Về cơ bản. Trước khi về khách sạn chúng tôi đi qua toà nhà nơi công ty tôi từng đặt văn phòng. Con ngõ tôi sống vẫn có những người hàng xóm cũ. Thật biết ơn là dù trải qua một đợt dịch nhưng nhiều người tôi quen vẫn ở đó, kể cả hai bà lão rất già bán lạc rang và bán cháo mà vợ tôi thi thoảng nói chuyện hồi trước. Chú bán hoa quả dạo bên cạnh cửa hàng 7-Eleven, có thể nói được vài từ tiếng Việt vì chúng tôi mua nhiều quá, cũng còn ở đó (dù cửa hàng 7-Eleven không còn) và nhận ra gia đình chúng tôi, hết sức ngạc nhiên và thích thú khi nhìn thấy con trai tôi bây giờ.

Chúng tôi cũng đi thăm lại bệnh viện nơi con tôi sinh ra, mà mẹ vợ tôi bảo là nơi “Mìn chôn nhau cắt rốn”, hehe. Vì bệnh viện hạn chế ra vào do dịch, chúng tôi suýt nữa tưởng sẽ không gặp lại vị bác sỹ từng mổ cho vợ tôi nữa, nhưng cuối cùng bệnh viện sau khi nghe trình bày vẫn hỗ trợ chúng tôi liên lạc với vị bác sỹ kia để chúng tôi gặp mặt và cám ơn. Bác sỹ vẫn nhớ chúng tôi là người Việt Nam.

Một vài địa điểm đã không còn nữa, như khu chợ đêm yêu thích của chúng tôi hồi trước (Ratchada night market) và hiện được thay thế bởi một khu chợ đêm khác (Jodd Fairs). Nhưng cơ bản thì cuộc sống vẫn như nó vẫn thế, những gì thân thuộc không mất đi khi ta tìm lại chúng.

Con tôi đã bốn tuổi, thật ra chưa đủ lớn để ghi nhớ sâu sắc những chuyến đi mà nó trải qua; khác với Bom – con lớn của chúng tôi, đã gần bảy tuổi và nhớ rất tốt mọi thứ; nhưng rất nhiều khi đi qua những góc phố quen, tôi thầm thì giới thiệu cho con rằng đây là nơi bố mẹ từng đi đó.

Hãy tích luỹ cảm xúc và trải nghiệm cho những đứa trẻ, điều đó sẽ tốt cho hành trình hạnh phúc của chúng rất lâu sau này.

 

Viết tặng con nhân tháng sinh nhật.

Hanoi – Bangkok 6/2022

June 27, 2022  Leave a comment

Đi bộ

Cô gái bước từ quán cà phê sang bên vỉa hè mà tôi đang đi tới.

Cô nắm tay bạn trai. Họ đi ngay trước tôi một đoạn không xa. Tôi bước chậm lại, không hẳn là để quan sát họ mà chỉ muốn giữ cái riêng tư cho cả tôi và cặp đôi đó, bởi dẫu sao thì vỉa hè cũng không rộng lắm. Cô gái hơi cao một chút, anh thì hơn cô nửa cái đầu. Họ không nói nhiều lắm với nhau mà chỉ nắm tay đi bộ như vậy. Trông cả hai hoàn toàn thoải mái, có lẽ không phải mới quen nhau. Tôi vẫn thích nhìn các cặp đôi nắm tay nhau ngoài phố, tình yêu bình yên vậy thôi. Không lâu sau đó, cặp đôi rẽ trái ở một ngã ba, vẫn nắm tay khi qua đường. Tôi thì đi thẳng.

Khi ta nhìn ở khoảng cách đủ gần, một số thứ bỗng trở nên rõ ràng hơn.

***

Tôi lướt qua một cửa hàng bán đồ thú cưng ở bên kia đường, suýt nữa không để ý đến con một con mèo đang nằm ngoan ngoãn đằng sau cửa kính cửa hàng, bởi lẽ nhìn từ xa trông nó như một món đồ trang trí mà cửa hàng cố tình bày biện. Chỉ đến khi một người khách vừa gạt chân chống xe máy để bước vào cửa hàng và với tay ra chơi với nó, tôi mới biết là có con mèo thật ở đó. Đã khá lâu tôi không có lũ mèo bên cạnh. Kể từ khi có con, tôi cho đi gửi hết bọn mèo, và không lấy lại nữa. Trước đây chỉ có thời du học là tôi không có mèo thường xuyên bên cạnh (dẫu vậy, tôi vẫn nuôi một con mèo một thời gian ngắn trong quãng thời gian ở bên đó). Có những khoảng thời gian ta bơ vơ đến nỗi không có lấy một con mèo nào. Hiện tại thì tôi không như thế. Tuy thi thoảng thấy hơi thiếu thốn lũ mèo nhưng nhìn chung là tôi ổn, vì tôi có con bên cạnh. Vả lại, tôi biết chắc mình sẽ sớm nuôi lại mèo thôi, khi con của tôi muốn.

Murakami tuy yêu, nhưng lại không nuôi một con mèo nào. Điều đó không ngăn ông hiểu lũ mèo, cũng không ngăn lũ mèo giúp ông – bằng cách này hay cách khác – viết những tiểu thuyết thú vị.

***

Ở một góc phố đâu đó gần nhà, tôi nhìn thấy một ông bố đang dắt con mình đi chơi. Bỗng tôi thấy không hẳn là ghen tị nhưng làm tôi nhớ đến con trai mình. Tôi rất thích những lúc dắt tay nó đi chơi. Bàn tay nhỏ xíu của nó nằm gọn trong tay tôi. Cách mỗi ông bố đưa con mình vào thế giới đều giống như nhau. Ta nắm chặt bàn tay nhỏ xíu đó dìu dắt bước đi, từng bước từng bước, bàn tay trao cho ta tất cả sự dè dặt và tin cậy trên thế giới này, cho đến khi tự mình bước đi được.

Những giây phút đó, tôi chỉ cảm thấy không còn gì quan trọng với mình hơn nữa, bằng việc con trai tôi vui.

***

Một gia đình đang ăn tối muộn, tôi thoáng thấy khi đi qua căn nhà mặt đường không đóng cửa. Khu phố này vốn nhiều hàng quán, rất dễ để nhìn thấy những sự tụ họp thân mật của con người. Nếu ta để ý một chút, dù là lướt qua khi đi bộ mà hoàn toàn không phải ngoái lại nhìn, ta sẽ thấy cuộc sống thật sinh động mà không ồn ào. Ai cũng có việc của mình.

Đôi khi lững thững đi bộ, đóng vai một kẻ ngoài lề nhìn vào những thứ ngẫu nhiên xuất hiện trước mắt, trong một tâm trạng không hẳn là vui hay buồn, ta thấy điều mà ta muốn thấy. Và chúng sưởi ấm ta từ bên trong.

Murakami có một câu quote nổi tiếng: “Memories warm you up from the inside. But they also tear you apart”. Kỷ niệm sưởi ấm ta từ bên trong, nhưng cũng xé nát trái tim ta.

Nhưng dẫu sao, có kỷ niệm đã là tốt lắm rồi.

***

Một mình ở thành phố lạ.

Khi ta trẻ hơn, mỗi cơ hội một mình ở thành phố lạ là một lần ta tận hưởng sự cô đơn. Sự bơ vơ của tuổi trẻ đôi khi buồn đến rợn người. Tuổi trẻ lang thang, vô định, rất nhiều khi ta không định hướng được con đường trước mắt, và cả con đường tương lai. “Nghe buồn nhịp chân bơ vơ“, Trịnh từng viết như thế.

Lâu rồi tôi không còn thấy cô đơn. Kể cả khi một mình. Kể ra cũng hiếm khi một mình, nếu không đi công tác xa.

Khi có cơ hội một mình ở thành phố lạ như thế này, tôi chỉ làm mỗi một việc là lững thững đi bộ, và nhìn cuộc đời đầy ắp xung quanh.

Tôi không cảm thấy nỗi cô đơn là cần thiết như trước (hồi tôi trẻ hơn) khi ta có một chỗ để chờ ta, để đi về.

Nhân vật của Paul Auster cứ lang thang suốt ở New York. Patrick Modiano cũng để nhân vật của mình quanh quẩn khắp Paris. Cả hai đều là những kẻ lang thang vĩ đại, miêu tả gần như cặn kẽ từng góc phố, ngõ nhỏ, bờ kè, đại lộ ngoại vi, công viên, cảnh trí… như một bức tranh tả thực được tráng mờ đi bởi ký ức huyền hoặc.

Phải mất bao nhiêu ngày lang thang trong một thành phố để tất cả sự xa lạ này trở nên quá đỗi thân quen?

***

Hôm nay ta say ôm đời ngủ muộn

***

Mỗi phút giây, trên mỗi một dặm đường
Ta sẽ gửi một chút mình ở lại

June 1, 2022  Leave a comment

about happiness

Vì tình hình dịch nên tôi làm việc ở nhà hôm nay.

Trong lúc làm đồ ăn trưa, tôi nghe podcast Hieu.tv phần nói về hạnh phúc. Video này quả có khơi gợi một số suy nghĩ tích cực về cuộc sống. Tôi vừa ăn vừa nghe cho đến khi xong. Tôi hiếm khi chỉ ăn mà không làm gì khác; thường là xem Netflix, nghe nhạc, thậm chí đôi khi là làm việc. Cũng chỉ là một thói quen vô hại.

Ăn xong tôi dọn dẹp và pha cà phê. Vợ tôi tặng một chiếc máy pha espresso vào hôm sinh nhật năm nay, từ đó tôi luôn pha cà phê ở nhà. Tôi có hai công thức pha cà phê. Một kiểu giống Bà Nà của Reng Reng. Kiểu còn lại giống August của Drew Coffee. Thực ra thì chúng đều là cà phê kem béo vốn dựa nhiều vào whipping cream và sữa đặc, nhưng kiểu August có thêm sữa tươi và cà phê đổ vào hỗn hợp đánh bông bằng máy thay vì khuấy bằng tay như kiểu Bà Nà. Tuỳ vào hứng mà tôi sẽ pha kiểu này hoặc kiểu kia chứ không có kế hoạch cố định. Hôm nay thì tôi pha kiểu August, do tôi có nhiều thời gian hơn mọi ngày (vì làm việc ở nhà).

Tôi mang cà phê ra ghế papasan nằm đọc sách.

Hôm nay là ngày đầu tiên thành phố đón đợt lạnh mới tràn về trong đêm. Ngồi bên cửa sổ ở trên cao, nếu hé cửa sẽ thấy gió khô thổi vào khiến ta muốn mặc thêm áo ấm. Nhìn chung là một ngày chớm đông dễ chịu, rất hợp cho việc đọc. Lũ mèo hẳn sẽ uể oải chui vào một góc nằm ngủ cả ngày, nhưng xung quanh tôi không có con mèo nào.

Tôi đang đọc dở tiểu thuyết mới nhất của Murakami, Giết chỉ huy đội kỵ sĩ. Tôi chờ một thời gian sau khi cuốn sách này ra mắt mới tìm đọc, vì cũng chẳng vội. Đây vẫn là một tiểu thuyết “kiểu Murakami“. Một vấn đề với các nhà văn trở nên phổ biến và đại chúng hoá là người ta cứ thích đặt một kỳ vọng khó hiểu lên họ, rằng cuốn sau phải hay hơn cuốn trước, rằng họ phải đạt được các giải thưởng. Tôi cho rằng nhà văn kể những câu chuyện khác nhau và về cơ bản, mỗi câu chuyện có sức sống và ý nghĩa của nó. Trong trường hợp của Murakami, các tiểu thuyết sau này của ông không được đánh giá cao như các tiểu thuyết ở giai đoạn đầu sự nghiệp. Tức là nhiều người coi văn nghiệp là một quá trình và trong quá trình đó, người ta có xu hướng chọn một cột mốc gọi là đỉnh cao sự nghiệp của một nhà văn. Trước và sau cột mốc đó là giai đoạn đi lên và thoái trào. Với Murakami là đang ở giai đoạn sau. Đại khái là thế.

Tôi không nhìn văn nghiệp của một nhà văn theo lối như vậy. Đặt mình vào vai một người viết, điều tôi theo đuổi trong suốt cuộc đời mình đó là mình có nói ra được đầy đủ và trọn vẹn những tư tưởng của mình hay không. Tôi nghĩ suy nghĩ của nhà văn gần với vậy. Đối với họ, việc một tác phẩm này hay hơn tác phẩm khác không quá quan trọng. Điều quan trọng là trong toàn bộ văn nghiệp, họ đã nói được hết những thứ muốn nói, và nói được chúng theo cách tốt nhất đối với họ hay chưa. Tôi cho rằng động lực khiến cho một nhà văn tiếp tục viết, kể cả khi ở tuổi rất già và đã an nhàn từ lâu, hoặc khi danh tiếng đã lẫy lừng, ở việc họ còn muốn nói tiếp những điều phải nói.

Nếu tiếp cận trên quan điểm như vậy, ta sẽ tránh xu hướng so sánh các tác phẩm với nhau mà nhìn vào các thông điệp mà một nhà văn muốn truyền tải. Tôi không cho rằng sau 1Q84, Murakami viết kém hơn trên khía cạnh chất lượng tác phẩm. Ông đã nỗ lực kể những thứ tiếp theo. Tôi cho rằng Murakami trong văn nghiệp của mình đã tạo ra được một phong cách riêng, đó là “kiểu Murakami” siêu thực hậu hiện đại, từa tựa khái niệm Kafkaesque nổi tiếng. Trong văn nghiệp đó, mỗi tác phẩm có vai trò kể một thông điệp và hãy đánh giá năng lực kể thông điệp đó có đạt hay không.

Dông dài như vậy để nói rằng tôi thấy Giết kẻ chỉ huy (tôi thích gọi vậy cho gọn, và sẽ dùng tên này cho đến cuối bài) là một tiểu thuyết thú vị. Công bằng mà nói thì mạch truyện hấp dẫn một cách chậm rãi. Với ai đã quen với Murakami, tức là quen với motif nhân vật chính gặp biến cố lớn khiến cuộc sống trước đây của anh ta hoàn toàn đổ vỡ và bắt buộc dấn thân vào một hành trình đơn độc u tối để giải mã mình, sẽ thấy tiểu thuyết này không khó nắm bắt. Cách tốt nhất để đi vào thế giới của Murakami là hãy thả mình tự do cuốn trôi đi theo lời kể và tham gia vào hành trình của nhân vật. Từng chút một, những gì ta muốn biết sẽ được nói ra. Vậy thì việc gì phải vội?

Tiểu thuyết này là một ví dụ nhỏ cho lý do tôi thích đọc sách. Đôi khi ta chỉ muốn nghe một câu chuyện được kể thật cừ, trong một ngày gió lạnh giữa những trạm nghỉ của cuộc sống.

Và bất giác tôi suy nghĩ về hạnh phúc.

Anh Hieu.tv nói cuộc đời về cơ bản là hành trình tích luỹ thật nhiều ngày hạnh phúc. Tôi thấy suy nghĩ này rất hay, và đúng.

Tôi không hay nói về hạnh phúc của bản thân. Cuộc sống của tôi cũng không có gì quá đặc biệt hay nổi trội. Nhưng những năm gần đây, tôi thấy mình tích luỹ hạnh phúc thêm mỗi ngày.

Tôi thích viết và đọc, những thứ mà tôi chọn sẽ già đi cùng nhau, và qua đó tiêu tan đi các u buồn của tuổi trẻ. Nhưng càng ngày tôi càng có ít thời gian cho chúng. Giống như bất kỳ người trưởng thành nào, tôi dành hầu hết thời gian để làm việc và lo cho gia đình của mình. Nếu ở thời trẻ hơn, những thú vui cá nhân thật là quan trọng và giúp ta cân bằng; thì đến một lúc nào đó ta thấy vui khi san sẻ thời gian và sự chăm lo cho người khác ngoài bản thân ta. Điều quan trọng không phải tỷ trọng thời gian hay mức độ quan tâm giữa bản thân và cho người khác, mà những gì ta làm gột rửa đi bao nhiêu sự cô đơn trong cuộc đời này. Cô đơn là chất liệu của tuổi trẻ, tráng men cho sự vững chãi mà ta phải có để đứng được trong đời, và đôi khi đó là sự cô đơn cần thiết. Nhưng tôi nhận ra mình không còn là gã trai đơn độc hồi xưa nữa.

Kiểu nhân vật điển hình của Murakami là những gã đàn ông trung niên cô đơn, sắp xếp ngăn nắp cuộc sống của mình, không thực sự phụ thuộc vào các rào cản xã hội, gần như ngoài lề định kiến thông thường. Chính sự ngăn nắp và ngoài lề đó khiến trong nhiều trường hợp, khi hành trình mới ập đến cuốn đi, họ không mang theo gì cả. Trong hành trình đó, các nhân vật tích luỹ lại từng mảnh nhỏ của mình.

Quá trình của các nhân vật Murakami luôn là một quá trình hướng lên trên. Đó là điều tích cực trong văn chương của Murakami.

Tích luỹ hạnh phúc mỗi ngày là một hành trình cần thiết.

Tỷ như việc dành ít phút cho bản thân để pha cà phê hàng ngày.

Nằm đọc sách bên cửa sổ.

Hay dạo gần đây, tôi thích nhất khi ở cạnh con trai mình. Đi dạo với nó ở dưới sảnh toà nhà vào chiều tối, khi gió nổi lên, bóng của hai bố con một cao một thấp lẫn vào nhau. Tôi thấy mình của thơ bé và thấy mình của hiện tại, đồng thời.

Hoặc khi lùa được hết bọn nhỏ đi ngủ để tôi và vợ Netflix vội buổi tối, sau một ngày dài. Cùng nói với nhau về những cái hẹn Đà Lạt, Bangkok, Châu Âu – mục tiêu phấn đấu.

Và những điều nhỏ nhặt khác, bằng lòng hoặc không bằng lòng, trong cuộc sống đang diễn ra.

Một câu hát của Trịnh mà ta vẫn hay nghe. Cho đời chút ơn.

Có lẽ vậy.

221121

November 22, 2021  Leave a comment

lặng yên sau giông bão

Tôi 33 tuổi.

Mỗi năm muốn viết một chút khi tuổi mới đến. Tôi nghĩ tài sản lớn nhất của một người, không phải số tiền kiếm được hay các thành tựu, mà chính là các suy tưởng của họ. Suy tưởng là một thứ di sản.

Suy nghĩ, suy tưởng, ý tưởng, trí tuệ, đều chung một nghĩa, tựu chung lại là thứ tài sản thực sự cá nhân mà mỗi người có thể để lại trên đời. Người ta thích ý tưởng lên sao Hoả của Musk hơn là việc ông là cổ đông của tập đoàn ô tô giá trị nhất thế giới. Người ta thích Romain Gary, làm sao mà không thích được một tình yêu nồng nàn như Romain Gary?

Tự dưng tôi có một suy nghĩ, chỉ một hai năm nữa thôi là mình sẽ nằm trong tiêu chí loại trừ của rất nhiều công ty tuyển người trẻ (các loại công việc hay ghi ưu tiên người từ 27 đến 35 tuổi), nhưng ngược lại cũng nằm trong tiêu chí cộng của các công ty tuyển người dày dặn kinh nghiệm (các loại công việc cần tuyển người thâm niên lớn hơn 35 tuổi). Lý tưởng nhất của sự nghiệp là bạn bước ra khỏi một tiêu chí để đạt đến một tiêu chí khác. Nhưng sẽ thật tệ nếu bạn không còn nằm trong bất kỳ tiêu chí tuyển dụng nào. Tức là tôi còn từng ấy năm để quyết định sự nghiệp của mình có sang được một nấc mới hay rơi tõm vào đáy sâu của vùng ở giữa không thuộc về đâu cả. Mid-life crisis của rất nhiều người xảy ra khi bước vào transition time giữa hai giai đoạn đó và bị chối bỏ bởi tứ phía dập dồn.

Nhưng thật ra tôi không quá quan tâm.

Ở cái tuổi này, mà người ta hay nói “không quá trẻ để bla bla, không có già để bla bla”, tôi nhận ra; so với mấy năm trước khi mới ba mươi; các triết lý cuộc đời, mindset, lý tưởng sống, cái mình theo đuổi, đã dần dần xây dựng. Cũng có thể nhiều thứ sẽ thay đổi, thế giới quan và cách ta suy nghĩ cũng thay đổi theo, ai biết trước được, nhưng tôi không còn hỏi mình một loạt các câu hỏi cuộc đời “tôi là ai”, “tôi muốn trở thành gì”, “tại sao…” như hồi trước nữa. Có những câu hỏi đã tìm ra trả lời, có câu hỏi left unanswered, better be that way, có những câu hỏi trở nên không còn đúng nữa. Có những câu hỏi trước kia, vào một lúc nào đó quan sát ông con lớn lên dần và người vợ của mình sống bên cạnh hàng ngày, câu hỏi ấy tự biến mất, trở thành một khẳng định. Cuộc đời không phải là cứ đi tìm các câu trả lời khác nhau cho các câu hỏi. Cuộc đời là để đi tìm lời khẳng định.

Nghe như lời trong cuốn sách Đi tìm lẽ sống của Viktor Emil Frankl, một cuốn sách đầy cảm động từ một nạn nhân sống sót qua trại tị nạn và đợt diệt chủng của phát xít Đức. Người ta phải qua biến cố mới hiểu bản thân, tôi nghĩ là điều này đúng.

Những biến cố đẩy ta vào sâu hơn con người mình.

Có lẽ tôi là kiểu người chẳng bao giờ thoả mãn với tất cả các sự ghi nhận từ bên ngoài. Tôi chỉ thoả mãn khi bản thân mình ghi nhận mình từ bên trong. Cố nhiên, tôi không biết điều này quá sớm, thành ra bao nhiêu năm cố gắng chạy theo các thành tích phù du, theo các tiêu chuẩn xã hội và nhận ra mình không thực sự thấy tốt lắm kể cả khi đạt được cái này cái kia, tôi mới hiểu điều đó hoàn toàn không quá quan trọng với mình.

Mỗi khi lái xe và thấy trái tim mình vẫn xao xuyến với lời ca của Trịnh, hoặc một câu hát hoang đàng da diết của Lê Uyên Phương, tôi thấy mình mới là đang sống đến trọn cùng.

Xin cho yêu em nồng nàn
Xin cho yêu em nồng nàn
Dù tháng năm buồn vui bàng hoàng

Hay như khi lặng yên bên nhau sau giông bão, sau những niềm vui không nói nổi nên lời, nhìn con mình ngủ say sau một chập khóc hờn, mệt mỏi, chúng tôi thấy tình yêu vô thanh, vô ưu, tự bao giờ.

Những điều thực sự quan trọng với mình.

Những tiêu chuẩn của bản thân.

Tôi nghĩ cuộc đời là cuộc hành trình đi về với chính mình, tìm cho mình các cơ hội để thấu hiểu bản thân, và qua đó tìm được đến sự hài lòng.

Nên đừng quên chăm lo cho các thú vui tinh thần của mình, các thú vui sẽ cùng mình trưởng thành lên và già đi.

Cũng như những người đi cùng mình trên hành trình đó, may làm sao, hành trình đó không hề là một hành trình đơn độc.

Thêm một tuổi nữa cùng em.

Em
Kề vai tôi ngồi bên thềm
Bỏ lại đằng sau
Những khúc quanh co
Và cám dỗ để quay về
060720

July 6, 2020  Leave a comment

« older posts