lặng yên sau giông bão

Tôi 33 tuổi.

Mỗi năm muốn viết một chút khi tuổi mới đến. Tôi nghĩ tài sản lớn nhất của một người, không phải số tiền kiếm được hay các thành tựu, mà chính là các suy tưởng của họ. Suy tưởng là một thứ di sản.

Suy nghĩ, suy tưởng, ý tưởng, trí tuệ, đều chung một nghĩa, tựu chung lại là thứ tài sản thực sự cá nhân mà mỗi người có thể để lại trên đời. Người ta thích ý tưởng lên sao Hoả của Musk hơn là việc ông là cổ đông của tập đoàn ô tô giá trị nhất thế giới. Người ta thích Romain Gary, làm sao mà không thích được một tình yêu nồng nàn như Romain Gary?

Tự dưng tôi có một suy nghĩ, chỉ một hai năm nữa thôi là mình sẽ nằm trong tiêu chí loại trừ của rất nhiều công ty tuyển người trẻ (các loại công việc hay ghi ưu tiên người từ 27 đến 35 tuổi), nhưng ngược lại cũng nằm trong tiêu chí cộng của các công ty tuyển người dày dặn kinh nghiệm (các loại công việc cần tuyển người thâm niên lớn hơn 35 tuổi). Lý tưởng nhất của sự nghiệp là bạn bước ra khỏi một tiêu chí để đạt đến một tiêu chí khác. Nhưng sẽ thật tệ nếu bạn không còn nằm trong bất kỳ tiêu chí tuyển dụng nào. Tức là tôi còn từng ấy năm để quyết định sự nghiệp của mình có sang được một nấc mới hay rơi tõm vào đáy sâu của vùng ở giữa không thuộc về đâu cả. Mid-life crisis của rất nhiều người xảy ra khi bước vào transition time giữa hai giai đoạn đó và bị chối bỏ bởi tứ phía dập dồn.

Nhưng thật ra tôi không quá quan tâm.

Ở cái tuổi này, mà người ta hay nói “không quá trẻ để bla bla, không có già để bla bla”, tôi nhận ra; so với mấy năm trước khi mới ba mươi; các triết lý cuộc đời, mindset, lý tưởng sống, cái mình theo đuổi, đã dần dần xây dựng. Cũng có thể nhiều thứ sẽ thay đổi, thế giới quan và cách ta suy nghĩ cũng thay đổi theo, ai biết trước được, nhưng tôi không còn hỏi mình một loạt các câu hỏi cuộc đời “tôi là ai”, “tôi muốn trở thành gì”, “tại sao…” như hồi trước nữa. Có những câu hỏi đã tìm ra trả lời, có câu hỏi left unanswered, better be that way, có những câu hỏi trở nên không còn đúng nữa. Có những câu hỏi trước kia, vào một lúc nào đó quan sát ông con lớn lên dần và người vợ của mình sống bên cạnh hàng ngày, câu hỏi ấy tự biến mất, trở thành một khẳng định. Cuộc đời không phải là cứ đi tìm các câu trả lời khác nhau cho các câu hỏi. Cuộc đời là để đi tìm lời khẳng định.

Nghe như lời trong cuốn sách Đi tìm lẽ sống của Viktor Emil Frankl, một cuốn sách đầy cảm động từ một nạn nhân sống sót qua trại tị nạn và đợt diệt chủng của phát xít Đức. Người ta phải qua biến cố mới hiểu bản thân, tôi nghĩ là điều này đúng.

Những biến cố đẩy ta vào sâu hơn con người mình.

Có lẽ tôi là kiểu người chẳng bao giờ thoả mãn với tất cả các sự ghi nhận từ bên ngoài. Tôi chỉ thoả mãn khi bản thân mình ghi nhận mình từ bên trong. Cố nhiên, tôi không biết điều này quá sớm, thành ra bao nhiêu năm cố gắng chạy theo các thành tích phù du, theo các tiêu chuẩn xã hội và nhận ra mình không thực sự thấy tốt lắm kể cả khi đạt được cái này cái kia, tôi mới hiểu điều đó hoàn toàn không quá quan trọng với mình.

Mỗi khi lái xe và thấy trái tim mình vẫn xao xuyến với lời ca của Trịnh, hoặc một câu hát hoang đàng da diết của Lê Uyên Phương, tôi thấy mình mới là đang sống đến trọn cùng.

Xin cho yêu em nồng nàn
Xin cho yêu em nồng nàn
Dù tháng năm buồn vui bàng hoàng

Hay như khi lặng yên bên nhau sau giông bão, sau những niềm vui không nói nổi nên lời, nhìn con mình ngủ say sau một chập khóc hờn, mệt mỏi, chúng tôi thấy tình yêu vô thanh, vô ưu, tự bao giờ.

Những điều thực sự quan trọng với mình.

Những tiêu chuẩn của bản thân.

Tôi nghĩ cuộc đời là cuộc hành trình đi về với chính mình, tìm cho mình các cơ hội để thấu hiểu bản thân, và qua đó tìm được đến sự hài lòng.

Nên đừng quên chăm lo cho các thú vui tinh thần của mình, các thú vui sẽ cùng mình trưởng thành lên và già đi.

Cũng như những người đi cùng mình trên hành trình đó, may làm sao, hành trình đó không hề là một hành trình đơn độc.

Thêm một tuổi nữa cùng em.

Em
Kề vai tôi ngồi bên thềm
Bỏ lại đằng sau
Những khúc quanh co
Và cám dỗ để quay về
060720

July 6, 2020  Leave a comment

Cái hang

“Tôi viết để biết mình nghĩ gì” – Frédéric Beigbeder

Quán cà phê giống như một cái hang.

Hàng quán của Hà Nội dần trở nên giống nhau, không phân biệt đó là quán trà đá vỉa hè, trà chanh, cà phê hay nhà hàng, không gian kín hay mở; tất tần tật khách khứa đến rất đông và nói rất to, hét vào mặt nhau, phì phèo thuốc lá, mặc kệ cho bên cạnh là trẻ em hay phụ nữ mang bầu. Thêm một điểm chung của hàng quán Hà Nội đó là âm nhạc đã trở thành tiếng ồn, như Orhan Pamuk nói, khi âm nhạc trở thành những tiếng ồn, đó chính là sự bất hạnh. Rất khó tìm được một quán cà phê Hà Nội không bật nhạc ngớ ngẩn, không đông khách, và không thừa mứa tiếng ồn. Đôi khi tôi thấy tội nghiệp cho một chuỗi nhà hàng franchise của Tây, toạ lạc ngay trung tâm Hà Nội đắt đỏ, mọi thứ đều rất fancy cho đến khi âm nhạc thị trường thoả sức rắt réo, được thản nhiên bật lên bởi một tay nhân viên nào đó không đếm xỉa gì đến tính cách thương hiệu.

Nhưng bước vào quán cà phê này thì khác, giống như bước vào hang, con người cần phải cúi đầu. Tốt nhất là hạ mình xuống cho thật thấp. Thứ nhất, quán chỉ bán cà phê; tức là, không phải quán cà phê bán, giả dụ, trà sữa, hay những đồ uống rất khó gọi tên vì thành phần hỗn hợp của những chất hoá học trong nó; quán chỉ bán cà phê, cũng tức là, tự hạn chế được một thành phần khách đến quán cà phê chỉ để uống tất cả những gì không phải cà phê, và quán chỉ bán cà phê đúng là cà phê, coi như tiếp tục lọc đi những thành phần không chịu được vị đắng chát của cà phê mà chỉ ưa bột đậu rang hoặc thứ gì đó có màu nâu tương tự. Thứ hai, quán chỉ bật một gu nhạc duy nhất, không phải thị hiếu phổ thông. Và thứ ba, đến quán không được nói to và tụ tập đông người. Quán cà phê rất tối, không có wifi hay toilet, và rất chật chội, nếu hơi đông một chút là mỗi người sẽ nép sát vào nhau.

Tức là mọi thứ ở quán cà phê, hay cái hang, này là một nỗ lực kiệt cùng để chống lại chính mình đừng trở thành một quán cà phê đặc trưng Hà Nội – nơi người ta có thói quen đến đó để rủa xả những căm tức xã hội hay bộc lộ toàn bộ phần che dấu của con người mình. Không đâu người Hà Nội bộc lộ rõ bản chất hơn ở quán cà phê. Nhưng cái hang quy định rất rõ, nói hơi to một chút, âm lượng vượt qua thính giác của người bên cạnh đều là những sự suy đồi lớn, và bạn sẽ bị mời ra ngoài. Tôi từng chứng kiến sự hậm hực của hai người phụ nữ không xinh đẹp lắm nhưng luôn tỏ ra là mình xinh đẹp vốn quen với việc chia sẻ chuyện trong nhà của họ một cách thoải mái ở chỗ công cộng bị mời ra ngoài; trong khoảnh khắc đó cơn sốc của họ, sự tức tối của họ, cơn bùng nổ kinh khủng của họ vì không chấp nhận nổi sự hấp dẫn mà họ tưởng là họ có, sự hấp dẫn vốn đã quen được chiều chuộng và mang đến cho họ những đặc cách, trong trường hợp này hoàn toàn bị khước từ bởi sự thản nhiên của người nam phục vụ trong cái hang, chỉ vì họ nói hơi to. Cách tốt nhất để làm điêu đứng một phụ nữ ư? Cứ mặc kệ họ. Phụ nữ không chịu đựng nổi việc không được chú ý tới.

Phụ nữ hấp dẫn thì rất nguy hiểm. Nhưng phụ nữ tưởng là mình hấp dẫn thì thật thảm hại. Tôi từng ngồi ở một quán cà phê khác, trên vỉa hè Hà Nội sát rạt Hồ Gươm, cũng là một quán cà phê chật chội, vì khá chật chội nên tôi phải chọn một cái ghế mà sát bên cạnh đã có người ngồi; trước khi ngồi xuống, vì lịch sự tôi hỏi cô gái bên cạnh liệu tôi có thể ngồi đó được không, cô gái đó nhìn tôi, theo cách nhìn mà tôi hiểu là cô gái cho rằng câu hỏi đó chỉ là một cách để tôi bắt chuyện và làm quen (rất dễ nhận ra những cô gái đi đến quán cà phê để chờ đợi đàn ông làm quen), như đã quen với việc đàn ông đến làm quen với mình, gửi trả cho tôi một cử chỉ kiêu kỳ. Tôi nhún vai, ngồi xuống bên cạnh, cắm tai nghe vào nghe Bob Dylan và đọc sách. Đó là một cuốn sách rất cảm động của nhà văn người Hungary, viết về tình yêu trong chiến tranh, mà tôi nôn nóng muốn đọc cho xong. Đối với tôi, khi ngồi cà phê một mình và cắm tai nghe nhạc đọc sách là cách để hoàn toàn quên lãng xung quanh, tạo một màng lọc với thế giới bên ngoài, một khoảng cách để thế giới đừng động đến tôi nữa, một tuyên ngôn về lãnh thổ bất khả xâm phạm mà không ai được hoan nghênh vượt qua. Cô gái ấy có vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi ngồi xuống bên cạnh, cắm tai nghe đọc sách. Chừng một lúc, dường như không chịu đựng nổi việc tôi cứ ngồi đó đọc sách và không làm gì (làm quen chẳng hạn, như bất kỳ gã đàn ông nào khác), cô gái đó bắt đầu tìm đủ mọi cách vô tình nhất để gây chú ý của tôi. Một vài cái đụng chạm nhẹ giả vờ, thỉnh thoảng quay sang nhìn tôi đủ lâu để tôi biết, nhìn cuốn sách tôi đọc, lấy điện thoại ra selfie với cô bạn bên cạnh và tỏ ra đáng yêu. Tôi nhã nhặn dịch sang một chút dù gần như không còn khoảng cách bên phải nữa. Tiếp tục đọc sách, theo đuổi cuộc gặp gỡ của hai bệnh nhân người Hung nói tiếng Thuỵ Điển trong hai trại tị nạn làm quen và nâng đỡ nhau qua những lá thư. Đó là cuốn sách dạy cho ta về sự khờ dại của con người, nhưng cũng chính sự khờ dại với thực tế khốc liệt của bệnh tật và chiến tranh lại có thể cứu sống con người, chứ không phải sự tỉnh táo. Cô gái bên cạnh tiếp tục quay qua nhìn tôi, thường xuyên hơn lúc trước, sự sốt ruột của cô cũng cân bằng với sự nôn nóng đi đến cuối câu chuyện của tôi. Bob Dylan đang hát một bài hát về chủ nghĩa hiện sinh, nỗi buồn chán của thân phận con người, nhưng lại là bài hát tràn đầy hy vọng. Cô gái ấy thì thầm gì đó với cô bạn, quay sang nhìn tôi, rồi quay sang nhìn cô bạn, và cứ tiếp tục nhìn tôi mãi và chờ đợi. Cà phê ở quán có một mùi ấm áp và mạnh mẽ, mùa đông Hà Nội đang di chúc nốt những gì còn lại của nó trong những làn gió thoảng kiệt sức, heo may vật vờ không chống đỡ nổi cơn nóng đầu mùa khốc liệt; tôi ở đây nhưng cũng không thực sự ở đâu cả. Cô gái ấy đụng chạm một lần nữa, vờ như vô tình, tôi không phản ứng gì, nhưng cô ấy quay sang nhìn tôi chằm chằm, đủ lâu. Người khách bên cạnh đứng dậy đi về, tôi quyết định chuyển qua bên đó, tạo một khoảng cách, một thái độ, quá đủ cho mọi sự xâm phạm không gian riêng tư của việc đọc, tôi mang cốc cà phê của mình đi theo, cảm nhận sau lưng một sự tức tối lạnh lẽo. Nhưng cũng có sao đâu, tôi còn một phần ba cuốn sách đọc dở.

Tôi thích đến cái hang, chìm vào một góc trong đó, đọc sách và uống cà phê. Con người thì thầm xung quanh, thì thầm đúng nghĩa, nếu như họ không đến cái hang một mình. Cái hang có một không khí căng thẳng nhất định. Nhưng tôi thích cái tối tăm căng thẳng ở đó. Một quán cà phê áp đặt một chút căng thẳng lên khách hàng là một quán cà phê thành công, chứ không phải ngược lại, để mặc khách hàng huỷ hoại và biến nó thành một cái chợ vỡ hung hiểm.

Cái hang phục vụ thứ cà phê rang mộc, mà theo họ tự nhận một cách khiêm tốn, là trung bình yếu về mặt chất lượng, tuy vậy trong suốt các năm lê la cà phê Hà Nội, tôi chưa thấy ở đâu cà phê ngon như ở đây. Cà phê tôi thích uống nhất là ở Đà Lạt, thứ đồ uống được ướp thêm một chút sương mù vùng cao, thưởng thức trong cái nắng gió và không khí tan loãng của thành phố buồn dễ làm người ta xao nhãng và trở về đời sống hưởng thụ đúng nghĩa. Uống cà phê ở Đà Lạt là một sự thưởng thức cuộc đời buồn bã trôi đi. Cà phê của Cái hang cũng có xuất xứ Đà Lạt, đưa từ vùng núi cao về, thưởng thức trong một căn góc bị bỏ quên chật chội trong cái thành phố không còn mấy bản sắc từng có, dĩ nhiên mất đi sự bồng bềnh, nhưng phần nào dễ chịu hơn tất cả các quán cà phê dễ dãi khác. Cái hang không có wifi hay toilet, lại vô cùng tối và chật chội, tức là về mặt tiện nghi hoàn toàn không thiết kế cho việc ngồi lâu dài hay đi đám đông cùng bạn bè. Đối tượng đến với Cái hang phù hợp nhất là những người tìm đến một chút ẩn mình thoáng chốc, lặng lẽ bên một cốc cà phê được pha dày công, cẩn thận. Người pha cà phê vô cùng chậm rãi, nhẩn nha, tĩnh lặng tập trung vào việc của mình, như cách họ tự nhận có phần hơi trầm trọng, phần nào giống một tử tù lặng lẽ cải tà, còn với thiện cảm của tôi thì thấy giống các nghệ nhân khó tính với bản thân mình, kiên quyết không để sơ sảy trong việc rèn luyện kỹ nghệ hơn. Cốc cà phê nóng ấm, được pha điềm tĩnh, mỗi khi đặt xuống bàn của khách, chủ quán cẩn thận căn dặn cách uống sao cho thật vừa, như thể truyền cái nhiệt tình của mình cùng chút u uất lắng đọng trong hồn cốt của cốc cà phê đến người thưởng thức. Cái u uẩn nhẹ nhàng cùng mùi cà phê trong không gian tối tăm chật chội hoá ra lại phần nào dễ chịu.

Cái hang không khuyến khích chụp ảnh hoặc giới thiệu rộng rãi, vậy nên tôi không nêu tên ra làm gì. Phổ biến địa điểm này thực ra sẽ huỷ hoại họ. Những người thích uống cà phê ở Hà Nội có lẽ cũng sẽ tự tìm ra quán cà phê chất lượng này thôi.

March 16, 2020  Leave a comment

Trầm

Cậu bạn đồng nghiệp ở công ty tôi hôm trước dán miếng cao ở cổ, cùng vài vết giác hơi. Hỏi thì cậu ấy bảo bị đau đầu mấy ngày nay. Tôi bảo cậu ấy thực ra bị stress, cậu ấy bảo “vâng”. Cậu bạn này bề ngoài lúc nào cũng bình thản, thuộc style lỳ lợm ít biểu lộ sức ép, năng lực cao; nhưng nói chung vẫn không dấu nổi dấu hiệu của stress công việc.

Tôi nhìn quanh, xung quanh tôi không thiếu những người trẻ có tài thành công sớm, gánh trọng trách cao, và hầu hết đều ít nhiều trầm cảm nhẹ. Dù bạn có giỏi đến đâu thì trong guồng quay của business, bạn vẫn cứ phải rướn mình lên không ít thì nhiều. Nếu bạn không trầm cảm nhẹ, thảng hoặc đôi khi stress công việc, có lẽ bạn đang chơi cái games vẫn dưới sức của mình. Games lớn khiến mình chật vật mới mang lại cảm hứng cao, và games cứ khó dần lên không bao giờ kết thúc. Cho đến khi bạn muốn dừng lại.

Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy, chẳng chừa được mấy người.

Có những ngày ra khỏi văn phòng, ta đồng thời trải qua hai trạng thái; vừa thở phào nhẹ nhõm như trút bỏ được, vừa sợ hãi biết rằng guồng quay vẫn đang vận động về bất tận. Tâm lý nhị nguyên ấy của dân business văn phòng đến mức độ nào đó rất dễ trở thành một thứ bệnh stress trường kỳ. Người Việt trẻ ngày càng đau đầu nhiều hơn. Và work-life balance là một kỹ năng tồn tại trong thế giới vật chất.

Có bao nhiêu dân văn phòng trẻ nhốt mình trong office và deal với trầm cảm trong công việc hàng ngày nhỉ.

***

Ba mươi phút, đôi khi dài hơn, lái xe mỗi ngày; để thoát khỏi công việc tôi nghe nhạc. Mỗi khi lái xe một mình giờ tan tầm, tôi đều nhớ đến quãng đời ở Châu Âu di chuyển trên tàu từ chặng này sang chặng khác. Phương tiện tuy có khác nhưng hoàn cảnh tương đồng, đều là tôi tách mình ra khỏi đám đông bằng cách quăng mình vào âm nhạc. Một chút lánh đời nơi thường nhật. Hồi đó tôi lẻ loi hơn bây giờ, cũng vô lo hơn bây giờ nhiều. Nhưng những lo toan đầu đời hay ở thời hiện tại, trong nhiều trường hợp vẫn được xoa dịu thoáng chốc bởi các các cố nhân xưa, những niềm vui cũ.

Hôm qua nghe lại 70 năm tình ca trong Tân nhạc Việt Nam, phần nói về Phạm Duy, Lê Uyên Phương, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Đoàn Chuẩn, Phạm Đình Chương, Trầm Tử Thiêng… và nghe câu “xin em hãy cho tôi tạ tình” Tuấn Ngọc hát, tôi vẫn thấy mình đủ rung động để yêu thương cuộc đời này, dù mỏi mệt đến đâu.

Mệt quá thân ta này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi

Tôi từng có nhiều thú vui hơn hiện tại, và dựa vào đó để tiêu tan đi những u buồn tuổi trẻ. Trưởng thành hơn, niềm vui gia đình, chơi với con, thảng hoặc hiếm khi có chút thời gian cho bản thân để tặng mình một bản nhạc cũ, tôi bỗng hiểu câu hát của Phạm Duy. Nghe xa vắng mà phảng phất đến bây giờ.

Dăm eo sèo nhân thế
Chưa phai lòng say mê

March 16, 2020  Leave a comment

Ký ức Châu Âu

Khoảnh khắc máy bay vọt lên không trung là một cơ hội lớn cho những đón lõng của ký ức bủa vây. Không có lúc nào hợp lý hơn để nghĩ về cuộc đời như khi ở trên trời. Toàn bộ quãng thời gian phi lý bất tận từ khi máy bay chầm chậm lăn bánh đến khi cất cánh chỉ làm con người bạc nhược dần đi, chờ đợi cũng như không chờ đợi, nới lỏng hết những đề phòng tự thân để mặc cho tiếng vọng từ quá khứ được dịp tràn về, lấp kín không gian xung quanh bằng kỷ niệm.

có những điều biết chỉ để mà quên
nhưng vẫn nhớ
vì quên là bất khả

Có một tiểu thuyết mở đầu bằng chính cái khoảnh khắc nới lỏng của ý chí con người khi vừa cất cánh hoặc hạ cánh ấy, đó là Rừng Nauy của Murakami. Tôi rất hiểu vì sao khi nghe bài hát của ban nhạc The Beatles và đương đầu với cơn tràn lên của ký ức, người đàn ông ba mươi bảy tuổi Toru bỗng vụt nhớ về thời hoa niên của mình, và tất nhiên, một mối tình cũ. Không có lúc nào hợp lý hơn để nhớ về bản thân mình (và những người tình cũ) như khi trôi dạt trên bầu trời.

Chiếc máy bay cứ bay lên mãi, đôi khi tôi ước gì nó cứ bay lên mãi như vậy, chẳng cần phải đặt chân xuống đất nữa, bỏ lại sau lưng những gánh nặng phố phường thì cuộc đời sẽ nhẹ nhàng đi biết bao. Ở trên không, con người tuyệt đối không làm gì, cũng chẳng thể làm được gì, trừ việc bạc nhược ngồi đó, mải miết suy nghĩ mà cũng không thực sự suy nghĩ về bản thân mình. Nhưng cũng có khi máy bay nghiêng cánh, cả một góc nghiêng mở ra chân trời rộng lớn đến phi lý, trải rộng về bất tận, khiến tôi thực sự có thể mơ hồ nhìn thấy phía bên kia bán cầu. Nhìn thấy Phương Tây. Tôi còn nghĩ nếu tôi cố gắng, tôi thậm chí còn có thể nhìn thấy chính mình; ở một lát cắt thời gian vô tình lọt qua khe hở mà thứ tự trước sau chỉ là một khái niệm tạm quy ước không thực sự có ý nghĩa; đang mệt nhọc bước đi trên những ngoại ô hoang vu của Châu Âu mùa lạnh.

đường thiên lý không em buồn hối hả
đã âm thầm
nhuộm biếc cả màu mây

Châu Âu đối với tôi là một thế giới khác, một vùng trời khác; nơi duy nhất chứa chấp nổi tôi, thay vì ném trả tôi về như những vùng đất khác – những vùng đất đối với tôi vô cùng quen thuộc; mỗi khi tôi rách rưới tan hoang nhất, trong tay hoàn toàn không có gì cả. Đó là những quãng tươi đẹp và buồn bã của tuổi trẻ, rất nhiều khi tôi không thực sự làm gì ngoài việc quăng quật, lang thang trên những ngoại ô vào buổi chiều tàn; những ngoại ô hoang vu và ảm đạm, rẽ hướng nào cũng thấy xa lạ như nhau. Tuổi trẻ hình như cứ phải sôi nổi như thế, hoang vu như thế. Đến mãi sau này, tôi vẫn khôn nguôi nhớ tiếc quãng thời gian hoang vụ ảm đạm đó.

Ký ức Châu Âu của tôi gắn liền với các mối tình. Mỗi bận đi về, tôi lại kịp có cho mình một mối tình, ngạc nhiên chứng kiến mỗi cuộc tiễn đưa ở sân bay là đều đặn những lần biến mất của một cô gái và xuất hiện của một cô gái mới. Các cô gái cứ thay nhau biến mất và xuất hiện trong cuộc đời của tôi, kéo dài bất tận cảm giác nuối tiếc dày vò của việc không thực sự giữ được ai cả, đôi khi là cả bản thân mình. Châu Âu nằm giữa ở những đổi thay, mà kết thúc của thứ này chỉ là để liên tục mở ra những thứ khác, kéo cuộc đời trôi dạt về những ngã rẽ không thực sự rõ đường. Lần trở lại Châu Âu sắp tới liệu có chứng kiến sự xuất hiện của một cô gái khác? Tôi cũng không chắc lắm.

Nhưng dẫu có hoang vu ảm đạm đến đâu, tôi vẫn không ngừng biết ơn Châu Âu đã ở cạnh tôi, chứa chấp tôi ở quãng thời gian trai trẻ non nớt của mình. Châu Âu dạy tôi rất nhiều thứ, chủ yếu là những ý niệm về khoảng cách. Mãi sau này khi trở về các vùng đất vốn thân quen với mình, nhưng không sao chịu đựng nổi sự gần gũi quá mức của con người với nhau mà chỉ khiến tôi thấy ngột ngạt khủng khiếp; rồi tôi nhanh chóng chuyển sang một vùng đất khác, Bangkok – nơi khoảng cách con người được tôn trọng hơn chút ít và cũng thấy dễ thở hơn chút ít; tôi mới hiểu rằng mình nhớ cuộc sống tuyệt đối tự do và cách biệt ở Châu Âu biết bao. Sự cách biệt của cuộc sống Châu Âu vừa thể hiện ở mặt vật lý – những thành phố của Châu Âu, nhất là vùng nông thôn không cách quá xa đô thị, những căn nhà thực sự rất xa nhau, nhỏ xinh và lặng lẽ ngủ yên trong những khu vườn và mảnh đất ngập tràn hoa và nắng của mình; đi mệt mỏi mới đến nhà bên cạnh, vốn là rào chắn lý tưởng cho những sự nhìn ngó ác ý – vừa thể hiện ở mặt văn hoá, tinh thần – người Châu Âu không có thói quen để tâm quá mức đến đời sống cá nhân của người khác. Đồng nghiệp lâu năm với nhau có khi không biết người kia lập gia đình hay chưa. Châu Âu dạy tôi về sự một mình, về những trải nghiệm tự thân. Hình như cả cuộc đời mình, cuộc chiến của tôi chỉ là cuộc chiến để có thể cách biệt càng nhiều càng tốt, tránh đám đông càng xa càng tốt, nhất là những đám đông như vậy.

Ký ức lang thang Châu Âu của tôi gắn liền với những toa tàu. Không phải những toa tàu chật ứ xác người mệt mỏi ngủ gật như ở Tokyo, mà chen chúc trên đó vốn dĩ là một nơi có phép tắc cư xử riêng rất khó nắm bắt, tôi nghĩ tốt nhất là mình cứ thu nhỏ lại thì tốt hơn, hoặc thậm chí biến mất. Những toa tàu Việt Nam, không biết gọi là tàu chở người hay hàng, hay là cả hai, trộn lẫn những mùi, những người, và không khí đề phòng thường trực làm người ta rất khó ngủ. Hay những toa tàu Bangkok, không quá đông cũng không quá vắng, nhưng vẫn rất ít khi có ghế trống, và không khí nóng bỏng thường trực. Đôi khi mải cắm mặt vào điện thoại mà quên lãng xung quanh, bất chợt ngẩng lên thấy phía trước mặt mình là một cô gái Thái xinh đến điêu đứng. Những cô gái Thái thực sự là Thái có một vẻ đẹp rất riêng, môi đầy đặn, mặt sắc nét và đằm thắm, nhất là đôi mắt, cùng sự tròn trịa lúc nào cũng chỉ trực quyến dụ người ta, mà tôi biết sự ngoan ngoãn lễ độ của họ cũng đối nghịch khủng khiếp với sự hoang dại từng trải đầy hứa hẹn cũng của chính họ. Trong khoảnh khắc ấy tôi gần như không biết phải làm gì với cô gái trước mặt; đội mũ lưỡi chai và áo phông bó sát, tôi vốn thích các cô gái đội mũ lưỡi trai, ở họ lúc nào cũng tỏ ra một sự bướng bỉnh rất đáng yêu; cũng đang cắm cúi vào điện thoại như mình. Cho đến khi tôi nghĩ ra sẽ phải bắt chuyện với nàng như thế nào (các cô gái Thái thật ra không khó bắt chuyện lắm) thì tàu bỗng dừng lại vì đến bến – cũng là bến của tôi. Tôi ngần ngừ mất một lúc nghĩ xem có nên bỏ qua bến này để ở lại bắt chuyện với nàng không, vì nàng cũng vừa kịp nhìn tôi và chắc ngạc nhiên chứng kiến sự bối rối của tôi. Nàng xinh quá đỗi, nhưng cuối cùng, tôi quyết định xuống tàu. Những chuyến tàu của Bangkok là những quãng di chuyển ngắn không thực sự đủ thời gian cho sự bùng nổ của các mối tình, nếu là tàu đường dài Shinkansen như ở Nhật Bản thì may ra, đấy là tôi cứ tự bảo mình như thế. Vả lại tôi đang cần ăn trưa hơn.

Những đoàn tàu ở Châu Âu quy củ và sạch sẽ, đặc biệt im ắng như một quy ước bất thành văn về giọng nói tránh vượt qua phạm vi thính giác của người đối diện. Sự cách biệt từ bản chất của người Châu Âu cũng không ngừng thể hiện trên các toa tàu. Cứ lên tàu là mỗi người chìm vào thế giới của riêng mình, hiếm ai nói chuyện, nhưng điện thoại thì vô tư, người ta vẫn thoải mái nói chuyện điện thoại chứ không như người Nhật kể cả bất đắc dĩ phải nói điện thoại thì cũng im lìm như xác ướp.

Còn tôi, cứ lên tàu là đương đầu với những khoảng thời gian đằng đẵng. Có rất ít thứ để nhìn ngắm ở bên ngoài cửa sổ khi bốn bề là tuyết, những sa mạc mà trước đây là vườn hoa và cảnh trí các thứ bây giờ hoàn toàn chìm trong sự dày đặc của tuyết phủ. Thảng hoặc đôi khi đoàn tàu lướt qua những khu đô thị hoặc núi non đồng bằng vui mắt một tí chỉ là các quãng nghỉ giữa những sự chuyển tiếp của vùng sa mạc trắng xoá này với vùng sa mạc trắng xoá khác. Tôi buồn chán nghe nhạc hoặc làm gì đó, chủ yếu gà gật nhưng toàn bộ thời gian hầu hết tôi không thể ngủ. Ấy thế mà có lần, không chỉ là một, tôi rơi tõm vào các giấc mộng mị ngắn ngủi mệt mỏi chỉ để sau đó phát hiện ra mình đã lỡ bến tàu.

Lỡ bến tàu vào mùa đông Châu Âu ở những thành phố không lớn lắm thực sự là một thảm hoạ. Hoặc bạn đi tiếp đến bến cuối rồi quay ngược lại, tốn rất nhiều thời gian, hoặc bạn đến bến này và chờ tàu ngược, vốn dĩ cũng tốn nhiều thời gian như thế. Các chuyến tàu ngược của những thành phố hoang vu không nhộn nhịp lắm, đôi ba tiếng, đôi khi lên đến sáu bảy tiếng, thậm chí nếu bất hạnh rơi vào lỡ chuyến cuối thì đương nhiên ta phải ngủ lại cả đêm ở bến tàu để chờ chuyến sớm hôm sau. Nhà ga Châu Âu không phải cái nào cũng mở qua đêm, chủ yếu thì con người sẽ phải ngủ ở ngoài đường, dưới cái lạnh âm độ.

Tôi không bất hạnh lắm vì không phải lỡ chuyến cuối, nhưng chuyến tàu ngược sẽ chỉ đến đây sau dăm ba tiếng nữa gì đó, đấy là tôi đoán thế chứ không thực sự biết được vì hôm đó chẳng hiểu thế nào mà nhà ga đóng cửa hết cả. Không có ai nói cho tôi biết điều gì. Bến tàu hoang vắng như sa mạc, tuyết phủ trắng xoá, trời lạnh căm căm. Hồi đó tôi cũng không đủ dạn dĩ để đi tìm một nơi trú thân, nhà nghỉ hoặc khách sạn gì đó nếu có , vả lại tôi cũng có nhiều tiền đâu, nên cứ cắn răng đương đầu với sự chờ đợi vô tận như thế, trong lòng tràn đầy tuyệt vọng. Sốt ruột chờ tàu, không thực sự rõ là đến bao giờ, ở những thành phố xa lạ chưa từng đặt chân tới, xung quanh không một bóng người, hoặc giả trong sự tuyệt vọng của tôi con người bỗng biến đâu mất cả. Tuyết rơi mỗi lúc một dày hơn, tôi bắt đầu thấm lạnh, cái lạnh của tuyết đóng băng dần con người ta; đôi khi tôi không thực sự cảm nhận rõ cơ thể mình. Mỗi tiếng trôi qua tăng dần niềm tin trong tôi rằng tàu thực sự sẽ không bao giờ đến nữa. Rằng tôi thực ra đã bị bỏ lại ở cái chốn này. Hồi đó tôi còn quá non nớt để hiểu được các dấu hiệu mà cuộc đời mang lại, nhưng có một điều tôi hiểu rất rõ đó là con người có thể lẻ loi đến thế nào. Những trải nghiệm về sự đơn độc sâu sắc nhất với tôi đều đến từ Châu Âu già cỗi.

Rồi thì tàu cũng đến; nó lầm lũi từ xa chạy lại mờ mịt trong sương mù làm tôi không thực sự chắc chắn là thật hay không, hay chỉ là những hình ảnh biến thể của ước vọng xa xôi nào đó rọi lại. Nhưng dù sao thì tôi cũng lên tàu, và không lần nào có thể ngủ được nữa.

(tuy vậy, tôi vẫn tiếp tục ngủ quên để rồi lỡ bến; nếm trải thêm các trải nghiệm tuyệt vọng tương tự khi một mình đối phó tại bến tàu; tôi đồ rằng về sau này một phần nào đó sâu thẳm trong tôi không mấy kỳ vọng vào con người hẳn đến từ nguyên nhân sâu xa của những lần bị “bỏ rơi” tại các bến tàu lạnh lẽo, nhưng về cơ bản, những trải nghiệm đơn độc kiểu ấy không hoàn toàn làm thui chột con người ta đi mà trái lại, góp phần rất nhiều vào việc rèn giũa nên sự cứng cáp)

Cuộc sống Châu Âu, có thể do sự cách biệt của nó, đánh dấu một chuyển biến quan trọng trong việc định hình con người tôi sau này. Những năm sống ở Châu Âu, do không mấy khi phải tiếp xúc với quá nhiều con người xung quanh (cuộc sống xã hội ở Việt Nam là một môi trường bủa vây dày đặc của các mối quan hệ), và do sống xa nhà, theo thiên hướng tự nhiên thôi thúc tôi trở về cội nguồn, tôi bắt đầu tìm hiểu về văn chương và tân nhạc Việt; tất nhiên không chỉ gói gọn trong sự duy mỹ của Việt Nam, về cơ bản thì tôi thích tất cả những sự duy mỹ thể hiện bằng ngôn từ và nhịp điệu; để rồi phát hiện ra một đam mê lớn của mình. Ở tuổi mười chín đôi mươi, tôi tự thấy tôi có may mắn hơn nhiều người ở chỗ sớm phát hiện ra mình yêu thích cái gì và có niềm vui theo đuổi nó. Những va chạm với văn chương và âm nhạc thời đó kích hoạt một thứ nhiệt huyết tuổi trẻ đầu đời không dễ lặp lại. Đó là một thứ hạnh ngộ mà cuộc đời đã hết sức hậu đãi tôi.

Để rồi ở tuổi hai mươi, khi hầu hết chúng bạn vẫn còn đang say mê với các cái của khỉ gì không biết, tôi thậm thụt nghiên cứu văn chương và túc tắc viết những bài thơ đầu đời. Thậm chí tôi còn tập toẹ dịch cả Đường Thi, nhưng nhanh chóng nhận ra mình thích thơ mới Việt Nam hơn nên từ bỏ.

Cả một mùa thu đã quá giang…

Xâm nhập sâu hơn vào thế giới của văn chương, thi ca dẫn lối tôi vào một thế giới rộng lớn của nội tâm mình. Tôi kinh ngạc nhận ra viết chỉ là một trạng thái khác, một biểu hiện khác, của ý thức. Khả năng viết được ra chính xác những suy nghĩ trong đầu trong biểu hiện và quy tắc của ngôn ngữ, đừng nghĩ là dễ, và quả thực phải tập luyện rất lâu. Đó là chưa kể đến viết thơ, về cơ bản là sự bay vụt lên của ý thức (quan điểm này của Nhị Linh rất chính xác); bay vụt lên tức là chọn một biểu hiện khác, biểu hiện duy mỹ và xuất thần của ý thức dưới dạng ngôn từ. Chính vì thế mà nỗi sung sướng khi viết được ra những câu mà biểu đạt trung thành với suy nghĩ nhưng bay vọt lên về mặt duy mỹ luôn làm tôi mất ngủ. Viết chính là một biểu hiện đẹp hơn của nghĩ.

Đôi khi tôi choáng váng vì vẻ đẹp của ngôn ngữ khi đọc được những văn chương mê hồn. Có rất nhiều người yêu Tiếng Việt, yêu một cách trong sáng. Tôi thuộc vào những người thực sự hiểu được Tiếng Việt có thể đẹp đến mức nào. Tôi cũng hay mỉm cười khi có ai đó phê phán về việc phải sử dụng Tiếng Việt cho “thuần Việt”, vì chưa chắc họ đã đọc nổi một bài thơ nào. Ngôn ngữ thì có quy tắc, nhưng những gì xuất sắc nhất lại đến từ sự bất quy tắc, Nhị Linh lại một lần nữa đúng.

Tôi vẫn giữ những đam mê đấy cho riêng mình, thích thú với sự theo đuổi những lĩnh vực riêng tư không mấy ai hiểu được, ít nhất là so với chúng bạn, và hoàn toàn thoả mãn với cõi riêng, với sự cách biệt của mình. Một lần nữa phải nhắc lại, cuộc chiến cơ bản nhất với tôi là cuộc chiến để trở nên cách biệt hoàn toàn so với đám đông. Thế giới ở ngoài kia dẫu có màu mè thế nào đi nữa thì tôi vẫn chỉ âm thầm hân thưởng thế giới của mình.

Có khi do sống ở Châu Âu quãng thời gian đó, vốn dĩ làm gì đó khác người hay không theo đám đông là điều hết sức tự nhiên, con người không phải lo để ý đến người khác nghĩ gì về mình, mà tôi có khoảng không để phát hiện ra thiên hướng của mình chăng.

March 16, 2020  Leave a comment

« older posts