about happiness

Vì tình hình dịch nên tôi làm việc ở nhà hôm nay.

Trong lúc làm đồ ăn trưa, tôi nghe podcast Hieu.tv phần nói về hạnh phúc. Video này quả có khơi gợi một số suy nghĩ tích cực về cuộc sống. Tôi vừa ăn vừa nghe cho đến khi xong. Tôi hiếm khi chỉ ăn mà không làm gì khác; thường là xem Netflix, nghe nhạc, thậm chí đôi khi là làm việc. Cũng chỉ là một thói quen vô hại.

Ăn xong tôi dọn dẹp và pha cà phê. Vợ tôi tặng một chiếc máy pha espresso vào hôm sinh nhật năm nay, từ đó tôi luôn pha cà phê ở nhà. Tôi có hai công thức pha cà phê. Một kiểu giống Bà Nà của Reng Reng. Kiểu còn lại giống August của Drew Coffee. Thực ra thì chúng đều là cà phê kem béo vốn dựa nhiều vào whipping cream và sữa đặc, nhưng kiểu August có thêm sữa tươi và cà phê đổ vào hỗn hợp đánh bông bằng máy thay vì khuấy bằng tay như kiểu Bà Nà. Tuỳ vào hứng mà tôi sẽ pha kiểu này hoặc kiểu kia chứ không có kế hoạch cố định. Hôm nay thì tôi pha kiểu August, do tôi có nhiều thời gian hơn mọi ngày (vì làm việc ở nhà).

Tôi mang cà phê ra ghế papasan nằm đọc sách.

Hôm nay là ngày đầu tiên thành phố đón đợt lạnh mới tràn về trong đêm. Ngồi bên cửa sổ ở trên cao, nếu hé cửa sẽ thấy gió khô thổi vào khiến ta muốn mặc thêm áo ấm. Nhìn chung là một ngày chớm đông dễ chịu, rất hợp cho việc đọc. Lũ mèo hẳn sẽ uể oải chui vào một góc nằm ngủ cả ngày, nhưng xung quanh tôi không có con mèo nào.

Tôi đang đọc dở tiểu thuyết mới nhất của Murakami, Giết chỉ huy đội kỵ sĩ. Tôi chờ một thời gian sau khi cuốn sách này ra mắt mới tìm đọc, vì cũng chẳng vội. Đây vẫn là một tiểu thuyết “kiểu Murakami“. Một vấn đề với các nhà văn trở nên phổ biến và đại chúng hoá là người ta cứ thích đặt một kỳ vọng khó hiểu lên họ, rằng cuốn sau phải hay hơn cuốn trước, rằng họ phải đạt được các giải thưởng. Tôi cho rằng nhà văn kể những câu chuyện khác nhau và về cơ bản, mỗi câu chuyện có sức sống và ý nghĩa của nó. Trong trường hợp của Murakami, các tiểu thuyết sau này của ông không được đánh giá cao như các tiểu thuyết ở giai đoạn đầu sự nghiệp. Tức là nhiều người coi văn nghiệp là một quá trình và trong quá trình đó, người ta có xu hướng chọn một cột mốc gọi là đỉnh cao sự nghiệp của một nhà văn. Trước và sau cột mốc đó là giai đoạn đi lên và thoái trào. Với Murakami là đang ở giai đoạn sau. Đại khái là thế.

Tôi không nhìn văn nghiệp của một nhà văn theo lối như vậy. Đặt mình vào vai một người viết, điều tôi theo đuổi trong suốt cuộc đời mình đó là mình có nói ra được đầy đủ và trọn vẹn những tư tưởng của mình hay không. Tôi nghĩ suy nghĩ của nhà văn gần với vậy. Đối với họ, việc một tác phẩm này hay hơn tác phẩm khác không quá quan trọng. Điều quan trọng là trong toàn bộ văn nghiệp, họ đã nói được hết những thứ muốn nói, và nói được chúng theo cách tốt nhất đối với họ hay chưa. Tôi cho rằng động lực khiến cho một nhà văn tiếp tục viết, kể cả khi ở tuổi rất già và đã an nhàn từ lâu, hoặc khi danh tiếng đã lẫy lừng, ở việc họ còn muốn nói tiếp những điều phải nói.

Nếu tiếp cận trên quan điểm như vậy, ta sẽ tránh xu hướng so sánh các tác phẩm với nhau mà nhìn vào các thông điệp mà một nhà văn muốn truyền tải. Tôi không cho rằng sau 1Q84, Murakami viết kém hơn trên khía cạnh chất lượng tác phẩm. Ông đã nỗ lực kể những thứ tiếp theo. Tôi cho rằng Murakami trong văn nghiệp của mình đã tạo ra được một phong cách riêng, đó là “kiểu Murakami” siêu thực hậu hiện đại, từa tựa khái niệm Kafkaesque nổi tiếng. Trong văn nghiệp đó, mỗi tác phẩm có vai trò kể một thông điệp và hãy đánh giá năng lực kể thông điệp đó có đạt hay không.

Dông dài như vậy để nói rằng tôi thấy Giết kẻ chỉ huy (tôi thích gọi vậy cho gọn, và sẽ dùng tên này cho đến cuối bài) là một tiểu thuyết thú vị. Công bằng mà nói thì mạch truyện hấp dẫn một cách chậm rãi. Với ai đã quen với Murakami, tức là quen với motif nhân vật chính gặp biến cố lớn khiến cuộc sống trước đây của anh ta hoàn toàn đổ vỡ và bắt buộc dấn thân vào một hành trình đơn độc u tối để giải mã mình, sẽ thấy tiểu thuyết này không khó nắm bắt. Cách tốt nhất để đi vào thế giới của Murakami là hãy thả mình tự do cuốn trôi đi theo lời kể và tham gia vào hành trình của nhân vật. Từng chút một, những gì ta muốn biết sẽ được nói ra. Vậy thì việc gì phải vội?

Tiểu thuyết này là một ví dụ nhỏ cho lý do tôi thích đọc sách. Đôi khi ta chỉ muốn nghe một câu chuyện được kể thật cừ, trong một ngày gió lạnh giữa những trạm nghỉ của cuộc sống.

Và bất giác tôi suy nghĩ về hạnh phúc.

Anh Hieu.tv nói cuộc đời về cơ bản là hành trình tích luỹ thật nhiều ngày hạnh phúc. Tôi thấy suy nghĩ này rất hay, và đúng.

Tôi không hay nói về hạnh phúc của bản thân. Cuộc sống của tôi cũng không có gì quá đặc biệt hay nổi trội. Nhưng những năm gần đây, tôi thấy mình tích luỹ hạnh phúc thêm mỗi ngày.

Tôi thích viết và đọc, những thứ mà tôi chọn sẽ già đi cùng nhau, và qua đó tiêu tan đi các u buồn của tuổi trẻ. Nhưng càng ngày tôi càng có ít thời gian cho chúng. Giống như bất kỳ người trưởng thành nào, tôi dành hầu hết thời gian để làm việc và lo cho gia đình của mình. Nếu ở thời trẻ hơn, những thú vui cá nhân thật là quan trọng và giúp ta cân bằng; thì đến một lúc nào đó ta thấy vui khi san sẻ thời gian và sự chăm lo cho người khác ngoài bản thân ta. Điều quan trọng không phải tỷ trọng thời gian hay mức độ quan tâm giữa bản thân và cho người khác, mà những gì ta làm gột rửa đi bao nhiêu sự cô đơn trong cuộc đời này. Cô đơn là chất liệu của tuổi trẻ, tráng men cho sự vững chãi mà ta phải có để đứng được trong đời, và đôi khi đó là sự cô đơn cần thiết. Nhưng tôi nhận ra mình không còn là gã trai đơn độc hồi xưa nữa.

Kiểu nhân vật điển hình của Murakami là những gã đàn ông trung niên cô đơn, sắp xếp ngăn nắp cuộc sống của mình, không thực sự phụ thuộc vào các rào cản xã hội, gần như ngoài lề định kiến thông thường. Chính sự ngăn nắp và ngoài lề đó khiến trong nhiều trường hợp, khi hành trình mới ập đến cuốn đi, họ không mang theo gì cả. Trong hành trình đó, các nhân vật tích luỹ lại từng mảnh nhỏ của mình.

Quá trình của các nhân vật Murakami luôn là một quá trình hướng lên trên. Đó là điều tích cực trong văn chương của Murakami.

Tích luỹ hạnh phúc mỗi ngày là một hành trình cần thiết.

Tỷ như việc dành ít phút cho bản thân để pha cà phê hàng ngày.

Nằm đọc sách bên cửa sổ.

Hay dạo gần đây, tôi thích nhất khi ở cạnh con trai mình. Đi dạo với nó ở dưới sảnh toà nhà vào chiều tối, khi gió nổi lên, bóng của hai bố con một cao một thấp lẫn vào nhau. Tôi thấy mình của thơ bé và thấy mình của hiện tại, đồng thời.

Hoặc khi lùa được hết bọn nhỏ đi ngủ để tôi và vợ Netflix vội buổi tối, sau một ngày dài. Cùng nói với nhau về những cái hẹn Đà Lạt, Bangkok, Châu Âu – mục tiêu phấn đấu.

Và những điều nhỏ nhặt khác, bằng lòng hoặc không bằng lòng, trong cuộc sống đang diễn ra.

Một câu hát của Trịnh mà ta vẫn hay nghe. Cho đời chút ơn.

Có lẽ vậy.

221121

November 22, 2021  Leave a comment

lặng yên sau giông bão

Tôi 33 tuổi.

Mỗi năm muốn viết một chút khi tuổi mới đến. Tôi nghĩ tài sản lớn nhất của một người, không phải số tiền kiếm được hay các thành tựu, mà chính là các suy tưởng của họ. Suy tưởng là một thứ di sản.

Suy nghĩ, suy tưởng, ý tưởng, trí tuệ, đều chung một nghĩa, tựu chung lại là thứ tài sản thực sự cá nhân mà mỗi người có thể để lại trên đời. Người ta thích ý tưởng lên sao Hoả của Musk hơn là việc ông là cổ đông của tập đoàn ô tô giá trị nhất thế giới. Người ta thích Romain Gary, làm sao mà không thích được một tình yêu nồng nàn như Romain Gary?

Tự dưng tôi có một suy nghĩ, chỉ một hai năm nữa thôi là mình sẽ nằm trong tiêu chí loại trừ của rất nhiều công ty tuyển người trẻ (các loại công việc hay ghi ưu tiên người từ 27 đến 35 tuổi), nhưng ngược lại cũng nằm trong tiêu chí cộng của các công ty tuyển người dày dặn kinh nghiệm (các loại công việc cần tuyển người thâm niên lớn hơn 35 tuổi). Lý tưởng nhất của sự nghiệp là bạn bước ra khỏi một tiêu chí để đạt đến một tiêu chí khác. Nhưng sẽ thật tệ nếu bạn không còn nằm trong bất kỳ tiêu chí tuyển dụng nào. Tức là tôi còn từng ấy năm để quyết định sự nghiệp của mình có sang được một nấc mới hay rơi tõm vào đáy sâu của vùng ở giữa không thuộc về đâu cả. Mid-life crisis của rất nhiều người xảy ra khi bước vào transition time giữa hai giai đoạn đó và bị chối bỏ bởi tứ phía dập dồn.

Nhưng thật ra tôi không quá quan tâm.

Ở cái tuổi này, mà người ta hay nói “không quá trẻ để bla bla, không có già để bla bla”, tôi nhận ra; so với mấy năm trước khi mới ba mươi; các triết lý cuộc đời, mindset, lý tưởng sống, cái mình theo đuổi, đã dần dần xây dựng. Cũng có thể nhiều thứ sẽ thay đổi, thế giới quan và cách ta suy nghĩ cũng thay đổi theo, ai biết trước được, nhưng tôi không còn hỏi mình một loạt các câu hỏi cuộc đời “tôi là ai”, “tôi muốn trở thành gì”, “tại sao…” như hồi trước nữa. Có những câu hỏi đã tìm ra trả lời, có câu hỏi left unanswered, better be that way, có những câu hỏi trở nên không còn đúng nữa. Có những câu hỏi trước kia, vào một lúc nào đó quan sát ông con lớn lên dần và người vợ của mình sống bên cạnh hàng ngày, câu hỏi ấy tự biến mất, trở thành một khẳng định. Cuộc đời không phải là cứ đi tìm các câu trả lời khác nhau cho các câu hỏi. Cuộc đời là để đi tìm lời khẳng định.

Nghe như lời trong cuốn sách Đi tìm lẽ sống của Viktor Emil Frankl, một cuốn sách đầy cảm động từ một nạn nhân sống sót qua trại tị nạn và đợt diệt chủng của phát xít Đức. Người ta phải qua biến cố mới hiểu bản thân, tôi nghĩ là điều này đúng.

Những biến cố đẩy ta vào sâu hơn con người mình.

Có lẽ tôi là kiểu người chẳng bao giờ thoả mãn với tất cả các sự ghi nhận từ bên ngoài. Tôi chỉ thoả mãn khi bản thân mình ghi nhận mình từ bên trong. Cố nhiên, tôi không biết điều này quá sớm, thành ra bao nhiêu năm cố gắng chạy theo các thành tích phù du, theo các tiêu chuẩn xã hội và nhận ra mình không thực sự thấy tốt lắm kể cả khi đạt được cái này cái kia, tôi mới hiểu điều đó hoàn toàn không quá quan trọng với mình.

Mỗi khi lái xe và thấy trái tim mình vẫn xao xuyến với lời ca của Trịnh, hoặc một câu hát hoang đàng da diết của Lê Uyên Phương, tôi thấy mình mới là đang sống đến trọn cùng.

Xin cho yêu em nồng nàn
Xin cho yêu em nồng nàn
Dù tháng năm buồn vui bàng hoàng

Hay như khi lặng yên bên nhau sau giông bão, sau những niềm vui không nói nổi nên lời, nhìn con mình ngủ say sau một chập khóc hờn, mệt mỏi, chúng tôi thấy tình yêu vô thanh, vô ưu, tự bao giờ.

Những điều thực sự quan trọng với mình.

Những tiêu chuẩn của bản thân.

Tôi nghĩ cuộc đời là cuộc hành trình đi về với chính mình, tìm cho mình các cơ hội để thấu hiểu bản thân, và qua đó tìm được đến sự hài lòng.

Nên đừng quên chăm lo cho các thú vui tinh thần của mình, các thú vui sẽ cùng mình trưởng thành lên và già đi.

Cũng như những người đi cùng mình trên hành trình đó, may làm sao, hành trình đó không hề là một hành trình đơn độc.

Thêm một tuổi nữa cùng em.

Em
Kề vai tôi ngồi bên thềm
Bỏ lại đằng sau
Những khúc quanh co
Và cám dỗ để quay về
060720

July 6, 2020  Leave a comment

Cái hang

“Tôi viết để biết mình nghĩ gì” – Frédéric Beigbeder

Quán cà phê giống như một cái hang.

Hàng quán của Hà Nội dần trở nên giống nhau, không phân biệt đó là quán trà đá vỉa hè, trà chanh, cà phê hay nhà hàng, không gian kín hay mở; tất tần tật khách khứa đến rất đông và nói rất to, hét vào mặt nhau, phì phèo thuốc lá, mặc kệ cho bên cạnh là trẻ em hay phụ nữ mang bầu. Thêm một điểm chung của hàng quán Hà Nội đó là âm nhạc đã trở thành tiếng ồn, như Orhan Pamuk nói, khi âm nhạc trở thành những tiếng ồn, đó chính là sự bất hạnh. Rất khó tìm được một quán cà phê Hà Nội không bật nhạc ngớ ngẩn, không đông khách, và không thừa mứa tiếng ồn. Đôi khi tôi thấy tội nghiệp cho một chuỗi nhà hàng franchise của Tây, toạ lạc ngay trung tâm Hà Nội đắt đỏ, mọi thứ đều rất fancy cho đến khi âm nhạc thị trường thoả sức rắt réo, được thản nhiên bật lên bởi một tay nhân viên nào đó không đếm xỉa gì đến tính cách thương hiệu.

Nhưng bước vào quán cà phê này thì khác, giống như bước vào hang, con người cần phải cúi đầu. Tốt nhất là hạ mình xuống cho thật thấp. Thứ nhất, quán chỉ bán cà phê; tức là, không phải quán cà phê bán, giả dụ, trà sữa, hay những đồ uống rất khó gọi tên vì thành phần hỗn hợp của những chất hoá học trong nó; quán chỉ bán cà phê, cũng tức là, tự hạn chế được một thành phần khách đến quán cà phê chỉ để uống tất cả những gì không phải cà phê, và quán chỉ bán cà phê đúng là cà phê, coi như tiếp tục lọc đi những thành phần không chịu được vị đắng chát của cà phê mà chỉ ưa bột đậu rang hoặc thứ gì đó có màu nâu tương tự. Thứ hai, quán chỉ bật một gu nhạc duy nhất, không phải thị hiếu phổ thông. Và thứ ba, đến quán không được nói to và tụ tập đông người. Quán cà phê rất tối, không có wifi hay toilet, và rất chật chội, nếu hơi đông một chút là mỗi người sẽ nép sát vào nhau.

Tức là mọi thứ ở quán cà phê, hay cái hang, này là một nỗ lực kiệt cùng để chống lại chính mình đừng trở thành một quán cà phê đặc trưng Hà Nội – nơi người ta có thói quen đến đó để rủa xả những căm tức xã hội hay bộc lộ toàn bộ phần che dấu của con người mình. Không đâu người Hà Nội bộc lộ rõ bản chất hơn ở quán cà phê. Nhưng cái hang quy định rất rõ, nói hơi to một chút, âm lượng vượt qua thính giác của người bên cạnh đều là những sự suy đồi lớn, và bạn sẽ bị mời ra ngoài. Tôi từng chứng kiến sự hậm hực của hai người phụ nữ không xinh đẹp lắm nhưng luôn tỏ ra là mình xinh đẹp vốn quen với việc chia sẻ chuyện trong nhà của họ một cách thoải mái ở chỗ công cộng bị mời ra ngoài; trong khoảnh khắc đó cơn sốc của họ, sự tức tối của họ, cơn bùng nổ kinh khủng của họ vì không chấp nhận nổi sự hấp dẫn mà họ tưởng là họ có, sự hấp dẫn vốn đã quen được chiều chuộng và mang đến cho họ những đặc cách, trong trường hợp này hoàn toàn bị khước từ bởi sự thản nhiên của người nam phục vụ trong cái hang, chỉ vì họ nói hơi to. Cách tốt nhất để làm điêu đứng một phụ nữ ư? Cứ mặc kệ họ. Phụ nữ không chịu đựng nổi việc không được chú ý tới.

Phụ nữ hấp dẫn thì rất nguy hiểm. Nhưng phụ nữ tưởng là mình hấp dẫn thì thật thảm hại. Tôi từng ngồi ở một quán cà phê khác, trên vỉa hè Hà Nội sát rạt Hồ Gươm, cũng là một quán cà phê chật chội, vì khá chật chội nên tôi phải chọn một cái ghế mà sát bên cạnh đã có người ngồi; trước khi ngồi xuống, vì lịch sự tôi hỏi cô gái bên cạnh liệu tôi có thể ngồi đó được không, cô gái đó nhìn tôi, theo cách nhìn mà tôi hiểu là cô gái cho rằng câu hỏi đó chỉ là một cách để tôi bắt chuyện và làm quen (rất dễ nhận ra những cô gái đi đến quán cà phê để chờ đợi đàn ông làm quen), như đã quen với việc đàn ông đến làm quen với mình, gửi trả cho tôi một cử chỉ kiêu kỳ. Tôi nhún vai, ngồi xuống bên cạnh, cắm tai nghe vào nghe Bob Dylan và đọc sách. Đó là một cuốn sách rất cảm động của nhà văn người Hungary, viết về tình yêu trong chiến tranh, mà tôi nôn nóng muốn đọc cho xong. Đối với tôi, khi ngồi cà phê một mình và cắm tai nghe nhạc đọc sách là cách để hoàn toàn quên lãng xung quanh, tạo một màng lọc với thế giới bên ngoài, một khoảng cách để thế giới đừng động đến tôi nữa, một tuyên ngôn về lãnh thổ bất khả xâm phạm mà không ai được hoan nghênh vượt qua. Cô gái ấy có vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi ngồi xuống bên cạnh, cắm tai nghe đọc sách. Chừng một lúc, dường như không chịu đựng nổi việc tôi cứ ngồi đó đọc sách và không làm gì (làm quen chẳng hạn, như bất kỳ gã đàn ông nào khác), cô gái đó bắt đầu tìm đủ mọi cách vô tình nhất để gây chú ý của tôi. Một vài cái đụng chạm nhẹ giả vờ, thỉnh thoảng quay sang nhìn tôi đủ lâu để tôi biết, nhìn cuốn sách tôi đọc, lấy điện thoại ra selfie với cô bạn bên cạnh và tỏ ra đáng yêu. Tôi nhã nhặn dịch sang một chút dù gần như không còn khoảng cách bên phải nữa. Tiếp tục đọc sách, theo đuổi cuộc gặp gỡ của hai bệnh nhân người Hung nói tiếng Thuỵ Điển trong hai trại tị nạn làm quen và nâng đỡ nhau qua những lá thư. Đó là cuốn sách dạy cho ta về sự khờ dại của con người, nhưng cũng chính sự khờ dại với thực tế khốc liệt của bệnh tật và chiến tranh lại có thể cứu sống con người, chứ không phải sự tỉnh táo. Cô gái bên cạnh tiếp tục quay qua nhìn tôi, thường xuyên hơn lúc trước, sự sốt ruột của cô cũng cân bằng với sự nôn nóng đi đến cuối câu chuyện của tôi. Bob Dylan đang hát một bài hát về chủ nghĩa hiện sinh, nỗi buồn chán của thân phận con người, nhưng lại là bài hát tràn đầy hy vọng. Cô gái ấy thì thầm gì đó với cô bạn, quay sang nhìn tôi, rồi quay sang nhìn cô bạn, và cứ tiếp tục nhìn tôi mãi và chờ đợi. Cà phê ở quán có một mùi ấm áp và mạnh mẽ, mùa đông Hà Nội đang di chúc nốt những gì còn lại của nó trong những làn gió thoảng kiệt sức, heo may vật vờ không chống đỡ nổi cơn nóng đầu mùa khốc liệt; tôi ở đây nhưng cũng không thực sự ở đâu cả. Cô gái ấy đụng chạm một lần nữa, vờ như vô tình, tôi không phản ứng gì, nhưng cô ấy quay sang nhìn tôi chằm chằm, đủ lâu. Người khách bên cạnh đứng dậy đi về, tôi quyết định chuyển qua bên đó, tạo một khoảng cách, một thái độ, quá đủ cho mọi sự xâm phạm không gian riêng tư của việc đọc, tôi mang cốc cà phê của mình đi theo, cảm nhận sau lưng một sự tức tối lạnh lẽo. Nhưng cũng có sao đâu, tôi còn một phần ba cuốn sách đọc dở.

Tôi thích đến cái hang, chìm vào một góc trong đó, đọc sách và uống cà phê. Con người thì thầm xung quanh, thì thầm đúng nghĩa, nếu như họ không đến cái hang một mình. Cái hang có một không khí căng thẳng nhất định. Nhưng tôi thích cái tối tăm căng thẳng ở đó. Một quán cà phê áp đặt một chút căng thẳng lên khách hàng là một quán cà phê thành công, chứ không phải ngược lại, để mặc khách hàng huỷ hoại và biến nó thành một cái chợ vỡ hung hiểm.

Cái hang phục vụ thứ cà phê rang mộc, mà theo họ tự nhận một cách khiêm tốn, là trung bình yếu về mặt chất lượng, tuy vậy trong suốt các năm lê la cà phê Hà Nội, tôi chưa thấy ở đâu cà phê ngon như ở đây. Cà phê tôi thích uống nhất là ở Đà Lạt, thứ đồ uống được ướp thêm một chút sương mù vùng cao, thưởng thức trong cái nắng gió và không khí tan loãng của thành phố buồn dễ làm người ta xao nhãng và trở về đời sống hưởng thụ đúng nghĩa. Uống cà phê ở Đà Lạt là một sự thưởng thức cuộc đời buồn bã trôi đi. Cà phê của Cái hang cũng có xuất xứ Đà Lạt, đưa từ vùng núi cao về, thưởng thức trong một căn góc bị bỏ quên chật chội trong cái thành phố không còn mấy bản sắc từng có, dĩ nhiên mất đi sự bồng bềnh, nhưng phần nào dễ chịu hơn tất cả các quán cà phê dễ dãi khác. Cái hang không có wifi hay toilet, lại vô cùng tối và chật chội, tức là về mặt tiện nghi hoàn toàn không thiết kế cho việc ngồi lâu dài hay đi đám đông cùng bạn bè. Đối tượng đến với Cái hang phù hợp nhất là những người tìm đến một chút ẩn mình thoáng chốc, lặng lẽ bên một cốc cà phê được pha dày công, cẩn thận. Người pha cà phê vô cùng chậm rãi, nhẩn nha, tĩnh lặng tập trung vào việc của mình, như cách họ tự nhận có phần hơi trầm trọng, phần nào giống một tử tù lặng lẽ cải tà, còn với thiện cảm của tôi thì thấy giống các nghệ nhân khó tính với bản thân mình, kiên quyết không để sơ sảy trong việc rèn luyện kỹ nghệ hơn. Cốc cà phê nóng ấm, được pha điềm tĩnh, mỗi khi đặt xuống bàn của khách, chủ quán cẩn thận căn dặn cách uống sao cho thật vừa, như thể truyền cái nhiệt tình của mình cùng chút u uất lắng đọng trong hồn cốt của cốc cà phê đến người thưởng thức. Cái u uẩn nhẹ nhàng cùng mùi cà phê trong không gian tối tăm chật chội hoá ra lại phần nào dễ chịu.

Cái hang không khuyến khích chụp ảnh hoặc giới thiệu rộng rãi, vậy nên tôi không nêu tên ra làm gì. Phổ biến địa điểm này thực ra sẽ huỷ hoại họ. Những người thích uống cà phê ở Hà Nội có lẽ cũng sẽ tự tìm ra quán cà phê chất lượng này thôi.

March 16, 2020  Leave a comment

Trầm

Cậu bạn đồng nghiệp ở công ty tôi hôm trước dán miếng cao ở cổ, cùng vài vết giác hơi. Hỏi thì cậu ấy bảo bị đau đầu mấy ngày nay. Tôi bảo cậu ấy thực ra bị stress, cậu ấy bảo “vâng”. Cậu bạn này bề ngoài lúc nào cũng bình thản, thuộc style lỳ lợm ít biểu lộ sức ép, năng lực cao; nhưng nói chung vẫn không dấu nổi dấu hiệu của stress công việc.

Tôi nhìn quanh, xung quanh tôi không thiếu những người trẻ có tài thành công sớm, gánh trọng trách cao, và hầu hết đều ít nhiều trầm cảm nhẹ. Dù bạn có giỏi đến đâu thì trong guồng quay của business, bạn vẫn cứ phải rướn mình lên không ít thì nhiều. Nếu bạn không trầm cảm nhẹ, thảng hoặc đôi khi stress công việc, có lẽ bạn đang chơi cái games vẫn dưới sức của mình. Games lớn khiến mình chật vật mới mang lại cảm hứng cao, và games cứ khó dần lên không bao giờ kết thúc. Cho đến khi bạn muốn dừng lại.

Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy, chẳng chừa được mấy người.

Có những ngày ra khỏi văn phòng, ta đồng thời trải qua hai trạng thái; vừa thở phào nhẹ nhõm như trút bỏ được, vừa sợ hãi biết rằng guồng quay vẫn đang vận động về bất tận. Tâm lý nhị nguyên ấy của dân business văn phòng đến mức độ nào đó rất dễ trở thành một thứ bệnh stress trường kỳ. Người Việt trẻ ngày càng đau đầu nhiều hơn. Và work-life balance là một kỹ năng tồn tại trong thế giới vật chất.

Có bao nhiêu dân văn phòng trẻ nhốt mình trong office và deal với trầm cảm trong công việc hàng ngày nhỉ.

***

Ba mươi phút, đôi khi dài hơn, lái xe mỗi ngày; để thoát khỏi công việc tôi nghe nhạc. Mỗi khi lái xe một mình giờ tan tầm, tôi đều nhớ đến quãng đời ở Châu Âu di chuyển trên tàu từ chặng này sang chặng khác. Phương tiện tuy có khác nhưng hoàn cảnh tương đồng, đều là tôi tách mình ra khỏi đám đông bằng cách quăng mình vào âm nhạc. Một chút lánh đời nơi thường nhật. Hồi đó tôi lẻ loi hơn bây giờ, cũng vô lo hơn bây giờ nhiều. Nhưng những lo toan đầu đời hay ở thời hiện tại, trong nhiều trường hợp vẫn được xoa dịu thoáng chốc bởi các các cố nhân xưa, những niềm vui cũ.

Hôm qua nghe lại 70 năm tình ca trong Tân nhạc Việt Nam, phần nói về Phạm Duy, Lê Uyên Phương, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Đoàn Chuẩn, Phạm Đình Chương, Trầm Tử Thiêng… và nghe câu “xin em hãy cho tôi tạ tình” Tuấn Ngọc hát, tôi vẫn thấy mình đủ rung động để yêu thương cuộc đời này, dù mỏi mệt đến đâu.

Mệt quá thân ta này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi

Tôi từng có nhiều thú vui hơn hiện tại, và dựa vào đó để tiêu tan đi những u buồn tuổi trẻ. Trưởng thành hơn, niềm vui gia đình, chơi với con, thảng hoặc hiếm khi có chút thời gian cho bản thân để tặng mình một bản nhạc cũ, tôi bỗng hiểu câu hát của Phạm Duy. Nghe xa vắng mà phảng phất đến bây giờ.

Dăm eo sèo nhân thế
Chưa phai lòng say mê

March 16, 2020  Leave a comment

« older posts