Kết thúc để bắt đầu

Nào, chúng ta hãy cùng đến với những gì hấp dẫn nhất của văn chương.

Điều gì làm cho văn chương thú vị? Chính là vì nó luôn luôn từ chối.

Văn chương hay ở chỗ chúng ta không cách gì hiểu cho trọn vẹn. Một tiểu thuyết thực sự lớn sẽ khước từ bất cứ cơ hội nào để được nhìn nhận đến tận cùng; các nhân vật được tạo ra, các tình tiết được mang đến, các nút thắt, các đoạn mở… tự bản thận chúng đòi hỏi một sự đánh giá đi đánh giá lại; mỗi câu chuyện đều sẵn sàng mang đến cho mỗi người đọc một cửa vào, đôi khi giống nhau hoặc khác nhau, và đưa họ đến một cửa ra, đôi khi cũng giống hoặc khác nhau, nhìn chung là tuỳ vào độc giả, có thể có cả nghìn cánh cửa như vậy, những giao cắt vô tình hữu ý trên những cánh cửa mở ra và đóng lại đó mang độc giả lại gần nhau hơn (trên khía cạnh cảm xúc, cảm nhận), những cũng đồng thời đưa chúng ta ra rất xa nhau. Đọc là việc hết sức cá nhân, mỗi chúng ta đều có một cửa vào và một cửa ra của riêng mình. Còn hơn cả thế, mỗi một lần đọc lại quyển sách nào đó, rất nhiều khi chúng ta sẽ tìm ra một đường vào khác, và đi ra ở một cánh cổng khác, có hoặc không các giao cắt với lần đọc cũ, mở ra cho chúng ta rất nhiều cảm nhận mới mẻ. Đừng ngạc nhiên khi thấy chúng ta nhìn một nhân vật ở lần này khác hẳn so với lần trước.

Đi vào một quyển sách, cũng như đi vào bản thân, là việc phải từng chút từng chút một, đi qua rất nhiều ngã rẽ, đôi khi sai đường, mà nói chung làm gì có đường nào gọi là đúng, con người vốn dĩ tràn ngập mâu thuẫn. Nhưng đồng thời con người cũng vô cùng nhất quán, bởi lẽ chúng ta chỉ đi loanh quanh trong cái bản thể của mình, trong cái vòng tròn số phận của mình. Bản chất con người nhất quán trong một sự mâu thuẫn tuyệt đối.

Cùng với văn chương, thi ca cũng nuôi dưỡng cho nó sự từ chối thấu hiểu đến tận cùng tương tự, và cả âm nhạc cũng vậy. Tất tần tật đều giống như nhau hết. Cả ba thứ này (có lẽ còn có những thứ khác) đều đến từ những tầng sâu của con người. Có trải nghiệm viết một chút, tôi biết rằng một nhà văn cũng có thể hoàn toàn không, và cũng không cần thiết, thực sự thấu hiểu tuyệt đối tác phẩm của mình. Đôi khi giọng nói ở bên trong nói rằng phải viết “điều ấy”, phải kể câu chuyện đấy, một cách phi lý trí nhất có thể, và mọi thứ cứ tự diễn ra thế thôi. Văn chương từ chối sự hiểu từ bất kỳ ai, ngay cả từ chính người viết ra chúng.

Con người với nhau cũng vậy, chúng ta cũng duy trì một sự từ chối thấu hiểu một cách tự nhiên, một cách bản năng. Con người không phải để hiểu. Chúng ta chỉ có thể nhận thức được các hiện tượng (người này thích điều này, thích điều kia, anh này thích đọc văn, thích đá bóng vv) và từ đó phỏng đoán ý nghĩa của các hiện tượng đó (thích đọc sách tức là kiểu người này, thích đá bóng tức là kiểu người kia). Chúng ta nhìn nhau qua các phỏng đoán. Bản thân các phỏng đoán cũng đầy rẫy những sự vô căn cứ, những sự mơ hồ. Cũng đừng ngạc nhiên khi phần lớn thời gian con người nhầm lẫn về nhau hết. Mọi thứ chỉ là phỏng đoán, chỉ là hiểu lầm. Con người không phải để hiểu, chúng ta chỉ có thể “cảm nhận”. Khái niệm tương đối gần điều này nhất có lẽ là thấu thị. Để hiểu một con người, thực ra đúng hơn là để “lại gần”, hãy nhìn họ. Nhưng nhìn không phải là “nhìn”. Chúng ta hiểu lầm một con người chủ yếu do chúng ta nhìn vẫn chỉ là nhìn, chứ không phải là nhìn.

Cứ bình tĩnh, mọi chuyện không phức tạp đến thế.

Khi chúng ta bỏ đi ham muốn chân chính thấu hiểu một con người, thì mọi sự trở nên tột cùng đơn giản.

Đối với Đinh Hùng, mỗi con người là một hành tinh (Anh sẽ tìm em như tìm một hành tinh/Mặc trái đất sắp tan vào mộng ảo). Tôi cũng cho rằng như vậy. Con người, cũng có thể là một vũ trụ nữa, với đầy rầy những sự mâu thuẫn, bí ẩn, không lời đáp của nó. Con người cũng có thể chẳng là cái gì.

Hình như từ đầu tôi định nói đến một việc khác, nhưng lại lan man đến chuyện con người. Tôi sẽ trở lại với nó ngay sau đây.

Quyển sách của năm của tôi trong năm 2016 chắc chắn phải là Tôi nói gì khi tôi nói về chạy bộ của Murakami. Một phần lớn ý thức hệ của tôi đã được củng cố từ tinh thần của quyển sách này. Những người follow tôi sẽ còn nhớ những gì tôi nói về nó, có lẽ là những thứ khả dĩ đáng kể nhất mà tôi từng huyên thuyên trong cả năm nay.

Còn quyển sách của năm 2017, dù mới bắt đầu năm thôi, tính tới hiện tại phải là Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng thế giới. Đây cũng là quyển sách từ chối sự thấu hiểu đến tận cùng.

Tôi đọc quyển sách này vì một lý do rất riêng tư, và cũng rất tình cờ. Tôi đã có ý tưởng viết Bóng từ trước đây, cho đến khi tôi biết được rằng Xứ sở kỳ diệu vô tình là một tiểu thuyết mang nhiều khái niệm và ẩn dụ thực sự hay về chiếc bóng (the shadow). Tôi quyết định sẽ đọc nó để tìm cảm hứng, và khác với các tiểu thuyết nặng ký khác của Murakami mà tôi thường đọc hàng tháng trời, tôi đọc quyển này trong vẻn vẹn vài ngày. Đọc ngấu nghiến và bị hút vào trong nó theo đúng nghĩa đen.

Đây là một câu chuyện tuyến tính về hai tuyến nhân vật (thực ra chỉ là một người, theo cách nhìn của tôi); một người đi về nơi kết thúc, người kia đi về nơi bắt đầu. Nơi kết thúc có tên gọi Xứ sở kỳ diệu, nơi bắt đầu là Tận cùng thế giới. Đây là một điểm đặc sắc và tinh tế, nghịch lý nhưng cũng đầy ẩn ý bậc thầy, của tác giả. Kết thúc của Xứ sở kỳ diệu (nhưng) vô tình, với những con người có tâm hồn, có mục đích (thậm chí dã tâm, tham vọng) là Nơi tận cùng thế giới, một thành phố bất khả xâm phạm có tường thành vây quanh, với những con người chấp nhận bỏ đi tâm hồn của mình, giết chết cái bóng của mình, để sống, hay tồn tại theo một chức năng duy nhất, một vai trò duy nhất đã được định sẵn. Nói tới đây, hãy nhắc đến một ẩn dụ về chiếc bóng: “Muốn nói gì thì nói, bóng là cái ở gần người ta nhất”, chiếc bóng chính là bản thân chúng ta, ở một thể hiện khác. Nơi tận cùng thế giới là nơi của những con người mất bóng. Sự kết thúc của Xứ sở kỳ diệu vô tình mở ra sự bắt đầu của Nơi tận cùng thế giới.

“Cái chết là có thực, nó không phải là đối nghịch của cuộc sống, mà là một phần của cuộc sống.” – Rừng Nauy.

Hãy cho rằng sự tuyến tính của câu chuyện này có liên quan đến triết lý nổi tiếng nhất về cái chết của Rừng Nauy, mặc dù Xứ sở kỳ diệu vô tình là tiểu thuyết thứ tư Murakami viết, sau Cuộc săn cừu hoang và trước Rừng Nauy. Tôi cho rằng Murakami đã vô tình phát hiện ra một cách nhìn về cái chết trong khi viết Xứ sở kỳ diệu vô tình, và sau khi hoàn tất nó đã cắt riêng phần này đi để tiếp tục triển khai thành tiểu thuyết thứ năm của mình. Toàn bộ Rừng Nauy có vẻ chỉ là một sự mở rộng theo một hình thái biểu hiện khác của Xứ sở kỳ diệu vô tình.

Cả hai xứ sở đều có Tình yêu, và đều thuần phác. Tình yêu giữa nhân vật ở tuyến một với cô gái thủ thư là thứ tình yêu mang đến sự giải thoát để tìm về cõi chết, Tình yêu giữa nhân vật ở tuyến hai với cô gái, cũng là một dạng khác của thủ thư thư viện; hai cô gái này về bản chất chỉ là một người ở hai thể hiện khác nhau; là Tình yêu đã níu kéo lại gã này trước ý định chạy trốn khỏi Thành phố, đồng nghĩa với việc quay trở lại hố sâu địa ngục của Xứ sở kỳ diệu mà chính gã vừa từ đó thoát thai. Hai thế giới này có chung cổng vào là chiếc đầu lâu của con thú một sừng. Ở Tình yêu thứ nhất, gã đàn ông trao cho cô gái chiếc đầu lâu rồi chết đi, thực chất là trao cho số phận của gã. Ở Tình yêu thứ hai, gã đàn ông thông qua chiếc đầu lâu chở “giấc mơ xưa” để tìm lại linh hồn cho cô gái. Cái gì kết thúc ở thế giới này sẽ tìm lại ở thế giới kia theo một cách thể hiện khác. Cái chết nối dài cho sự sống mới. Chỉ có Tình yêu là vẫn thuần phác như vậy. Tình yêu dẫn đường cho gã đi vào chính mình. Xứ sở kỳ diệu vô tình là thế giới rộng lớn bên ngoài của nhân vật chính, còn Nơi tận cùng thế giới chỉ là thế giới ở bên trong của gã.

Theo dòng sáng tác, Xứ sở kỳ diệu vô tình là tiểu thuyết thứ tư của Murakami; tôi chưa đọc Lắng nghe gió hát (tiểu thuyết đầu tiên) và Pinball (tiểu thuyết thứ hai), nên không dám chắc lắm, nhưng rất có thể Xứ sở kỳ diệu vô tình là tiểu thuyết đầu tiên Murakami viết theo lối tuyến tính – lối viết đã trở thành kinh điển của Murakami mà sau này sẽ gặp rất nhiều ở Kafka bên bờ biển và đặc biệt là 1Q84. Ngoài tuyến tính trên khía cạnh các nhân vật khác nhau, sự tuyến tính về thế giới song song ở Xứ sở kỳ diệu vô tình cũng dường như đặt nền móng cho sự xuất hiện dày đặc các thế giới song song sau này trong các cuộc hành trình kỳ quặc của phần lớn tiểu thuyết Murakami: Nhảy nhảy nhảy, Biên niên ký chim vặn dây cót, Người tình Sputnik, 1Q84… Những thế giới song song nhưng cũng giao cắt, hoặc dần dần chập vào một.

Xứ sở kỳ diệu vô tình dường như có một ý nghĩa hết sức đặc biệt trong việc sáng tác của Murakami. Quyển tiểu thuyết này trao cho Murakami một quyền năng đặc biệt, giúp ông mở ra những cánh cửa cho mình. Những tiểu thuyết sau này của Murakami, tôi cho rằng, phần lớn đều lấy từ những mảnh nhỏ nào đó trong Xứ sở kỳ diệu vô tình mà triển khai ra, kể cả những kiệt tác đồ sộ như 1Q84 đi nữa.

Xứ sở kỳ diệu vô tình có ẩn dụ về mọi thứ. Hay nói cách khác, mọi thứ ở đây đều là ẩn dụ, và đặc biệt nhiều. Ẩn dụ từ thiên nhiên: Rừng. Núi. Sông suối. Mây. Thời tiết. Ẩn dụ về Thành phố, đường hầm, lòng đất. Ẩn dụ về các thế lực: Con người. Thiên tài. Ma quỷ. Ẩn dụ về Thiện, Ác. Ẩn dụ về giấc mơ, về tâm hồn. Ẩn dụ về thú vật: Thú một sừng, chim chóc. Ẩn dụ về sự sống, cái chết. Mọi thứ đều là ẩn dụ, đều là khái niệm. Cuốn tiểu thuyết này là một khu rừng về ẩn dụ, trùng trùng điệp điệp. Ngay cả cách ví về khu rừng, cũng là một ẩn dụ nốt.

Chính vì cả cuốn sách là một sự ẩn dụ, nên nó chân chính từ chối những nỗ lực để hiểu cho trọn vẹn. Ở đây cần một sự thấu thị. Chính vì nó có quá nhiều cánh cổng vào mở ra, nên nó cũng đòi hỏi những sự đọc đi đọc lại nhiều lần.

Có lẽ là sự tình cờ, tôi đọc quyển tiểu thuyết này ở nửa cuối năm ngoái cho đến khi sang năm mới (lịch âm), giống như hai tuyến truyện của kết thúc và bắt đầu vậy. Quyển tiểu thuyết này cũng thực sự chạm đến tôi nhất ở những góc sâu khuất rất khó động đến, không phải chỉ bởi vì cái giao cắt nhất định đối với Bóng, hay những triết lý mang tính bản lề mà tôi sẽ còn kế thừa được rất lâu sau này, mà còn ở một cái nhân duyên nào đó từ một cánh cửa đã mở ra, rốt cuộc cũng để tôi đi vào chính mình, ở một tầng sâu hơn từng biết đến.

“Cioran dạy tôi rằng muốn suy nghĩ thì phải ở chiều ngang. Và qua rất nhiều điều không liền lạc với nhau, tôi hiểu ra ông ấy muốn dạy cho tôi một điều rất quan trọng: đọc có ba cấp độ, cấp độ một là đọc để biết những điều mình chưa biết, cấp độ hai là đọc để biết rằng những gì mình tưởng là đã biết hóa ra mình còn chưa biết, nhưng cấp độ ba mới là đỉnh cao, đọc là để biết rằng những gì mình tưởng còn chưa biết hóa ra mình đã biết rồi, chỉ là chưa bao giờ học được cách lôi nó ra từ sâu thẳm đâu đó bên trong con người bí ẩn muôn trùng, tức là bản thân chúng ta.” – Nhị Linh

Văn chương, xét cho cùng là để chúng ta đi tìm từng chút một những mảnh vụn của mình (câu này cũng là ý của Nhị Linh nốt).

Tôi thích tiểu thuyết này của Murakami bởi lẽ ông đã viết một cách rất thoải mái, dù đề tài mà ông tiếp cận (sáng tạo ra một thế giới mới, thế giới ở bên trong) không hề nhỏ, thậm chí nó thực sự lớn. Phạm vi quy mô của những chủ đề mà cuốn sách này tham vọng nói đến rộng lớn vô cùng, và tôi tin rằng nó lớn hơn cả khả năng, bút lực của ông thời đó (quãng 1985, chỉ vài năm sau cái tuổi hai mươi chín khi Murakami quyết định trở thành nhà văn); nhưng ông đã xoay sở một cách nhẹ nhàng để đưa mọi thứ ở trong tầm kiểm soát và vẫn đạt được đến mức độ chất lượng cao cho từng thứ mà ông muốn nói đến. Về sau bút lực mạnh mẽ hơn, và liên tục đẩy giới hạn sáng tạo của mình lên nhưng đôi lúc Murakami vẫn sẩy chân một cách phí phạm. Đọc thêm về cú thất bại của Murakami với 1Q84 tại đây.

Đây là một tiểu thuyết hết sức vô khuyết, nhưng cũng đừng coi nó là một thứ hoàn hảo. Về sự hoàn hảo, bản thân hai xứ sở trong cuốn truyện này cũng là thể hiện của hai thế giới hoàn hảo, nhưng chính trong sự hoàn hảo đó có mầm mống của đổ vỡ, của sự bất toàn. Nơi tận cùng thế giới thiếu linh hồn, còn xứ sở kỳ diệu vô tình thì thiếu ước mơ.

Thế giới hoàn hảo bởi sự bất toàn như thế.

February 1, 2017  Leave a comment

Bóng

Chiếc máy bay vụt lên tầng không đúng lúc nhạc mở bài Snow (Hey oh) của Red Hot Chili Peppers, một giai điệu sôi động, phấn khích. Cùng lúc đó, tôi cũng đang đọc đến đoạn nhân vật chính ở tuyến thứ hai của cuốn tiểu thuyết Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng thế giới tìm được nhạc cụ trong khu nhà kho ở trong rừng. Rất nhanh chóng, máy bay rời bỏ thành phố, vượt lên làn sương mỏng ngăn cách không khí nặng nề tù đọng ở phía dưới với lớp chân không nhẹ bỗng ở bên trên. Tôi bắt đầu cảm thấy lơ lửng, trọng lực dường như quên mất vai trò của nó mỗi khi máy bay lướt nhẹ trên không. Nhìn ra cửa sổ, thành phố đã hoàn toàn luẩn quất sau mây. Chiếc máy bay nằm trọn vẹn trong những đụn mây khổng lồ mịn màng. Bốn phía là mây, trải rộng đến vô cùng. Có cảm giác thực ra máy bay cứ đứng im một chỗ như thế, lười biếng nép mình vào những đám mây dịu dàng, trôi dạt đi bởi gió chứ không còn bay nữa. Ở trên mây, mọi thứ đều trở nên lặng lẽ, uể oải. Có một cảm giác cực kỳ hạnh phúc khi nghe Snow (Hey oh) ở thời khắc máy bay lướt lên không trung; thêm nữa, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết kỳ thú mà tôi đang đọc cũng tìm được chiếc nhạc cụ, chính xác là một chiếc Phong cầm (mà về sau chiếc Phong cầm này có vai trò chìa khoá quan trọng), làm tôi cảm thật tương hợp giữa cả ở ngoài đời và trong sách. Âm nhạc tràn ngập không gian xung quanh tôi theo đúng nghĩa đen, chúng ngấm vào từng tận tế bào, lan đến từng mạch máu, trôi vào sâu thẳm tâm hồn.

Tôi đang bay về nhà để ăn Tết.

Máy bay không còn một chỗ trống, sân bay chật ních người, phần lớn trong đó là người Việt cũng đang háo hức về ăn Tết như tôi. Mắt họ lấp lánh một niềm hạnh phúc xum họp. Đã quá lâu rồi họ chưa trở về nhà chăng? Từng đoàn người hồi hương về xum họp trong lịch sử loài người đều là những cuộc di cư vĩ đại. Như những cánh chim thiên di tránh rét rồi trở về, chúng ta không được phép quên nguồn. Tuổi trẻ có cái khao khát hăm hở đặc trưng, đó là: Đi! Đôi khi là chạy trốn, chối bỏ, chán nản chính nơi chốn mình sinh sống, thèm khát được ra đi, được theo thuyền đón sóng, lênh đênh trên những cuộc hành trình mới mẻ, trôi dạt về đâu cũng được. Nhưng bên cạnh cái háo hức của Đi, sau những cuộc dấn thân ngật ngưỡng vào cuộc đời, nhựa sống tuổi trẻ đã bị bào mòn đi ít nhiều nhiệt huyết, người ta sẽ có một tâm lý bồn chồn ngang ngửa, đó là Về! Văn chương đã nương tựa vào hai đầu của cuộc hành trình bản chất nhất của con người mà hoài thai ra rất nhiều kiệt tác.

Tôi nhập vào đoàn người trở về lê thê ấy.

Chuyến bay kéo dài hơn một tiếng rưỡi đồng hồ, tôi có từng đó thời gian để kết thúc nốt cuốn tiểu thuyết của mình.

Tôi đã biết Hà Nội hôm nay sẽ không lạnh ngay từ khi chập chờn nhìn thấy nắng phát tán dưới tầng mây gần mặt đất nhất. Murakami bảo người ta hiểu đôi chút về thời tiết, nếu ngày nào cũng theo dõi các chuyển động của mây; tôi thì vừa ở trên mây xuống, nên tôi không bất ngờ trước cái nóng nực của mùa đáng lẽ ra phải là Đông đang không ngừng chói chang bốn phía. Mùa đông năm nay quá độ sớm quá, những mùa đông kỳ quặc cứ ấm dần lên và qua đi thật nhanh làm người ta sửng sốt có thật sự còn mùa đông hay không, hay nó chỉ làm một biến thể của mùa gì đó lai giữa mùa thu và mùa xuân, hay mùa xuân và mùa hạ, hay là một sự trộn lẫn của cả ba, để rồi tạo thành một thứ mùa rất không có màu sắc. Cái mùa đông bàng bạc khiến người ta run rẩy yêu nhau đã không còn nữa, kéo theo nó những sự xa nhau rất đỗi vô tình.

Nhưng mặc kệ cái nắng nóng phi lý, không khí Tết vẫn thấm đẫm từ cả lớp sương mỏng bao trùm thành phố ở trên cao. Tết làm người ta vội vã hơn, tất bật hơn, nhưng đồng thời cũng làm người ta tử tế hơn. Tôi thấy những kẻ cứ ra rả đòi bỏ Tết cổ truyền đều là những kẻ ngu xuẩn. Lý lẽ của họ đều có vẻ hợp lý, đôi khi hợp lý đến giả dối, nhưng người ta quên mất một điều là Tết, trong phạm vi khái niệm bản chất nhất của nó, vốn dĩ chẳng có gì xấu. Quốc gia nào mà chẳng có ngày lễ Tết của mình? Chính con người và những thứ bày vẽ phù phiếm xung quanh Tết mới làm cho nó trở nên xấu xí đi. Trong một năm có vài tuần tự dưng vật giá leo thang hẳn lên đến mức phi lý, dịch vụ thì đi xuống, xong rồi con người lao vào vòng xoáy của cúng bái, lễ lạt, bon chen gồng gánh trong những sự chuẩn bị phung phí để có một cái Tết “đủ đầy” dù họ biết rõ rằng những thứ hình thức như vậy chỉ là họ một nghèo nàn đi. Cái chúng ta cần đâu phải là bỏ Tết đi, chúng ta cần là phải bỏ hết hủ tục đi đấy chứ. Mà mặc kệ lũ người ngu xuẩn đang bi kịch hoá Tết đi, hoặc thống thiết kêu gào phải gộp chung Tết này Tết nọ, tôi thấy chúng rặt là một lũ rởm đời. Khi chúng ta chọn nhìn vào cuộc đời bằng cái nhìn đầy bi kịch, thì cuộc đời xung quanh cũng sẽ chỉ ngập tràn bi kịch. Tôi vẫn luôn nhìn vào Tết bằng đôi mắt háo hức đã in hằn vào ký ức bé thơ, dù đã không còn bé nữa. Khác với mọi người cứ luôn tất bật, tôi chỉ đơn giản tận hưởng Tết theo cách nhẹ nhàng nhất.

Về đến nhà, đã được dọn sạch tinh tươm bởi mẹ (thật là biết ơn mẹ!), cùng một số đồ đạc cũ đã được tống khứ đi, căn nhà trông trống hoác hẳn đi so với kiểu của tôi vẫn ở. Mẹ thậm chí còn cắm một lọ hoa để trên bàn, càng làm nó không giống kiểu của tôi ở hơn. Nhưng dù sao bó hoa rất đẹp, mang đến một sắc thái mới mẻ lạ lẫm. Nhờ có mẹ qua chăm sóc hộ mà căn nhà này không có vẻ một căn nhà vô chủ đã lâu mà vẫn có mùi của con người. Cảm giác của tôi giống hệt như cảm giác của nhân vật chính trong Xứ sở kỳ diệu vô tình khi trở về nhà sau một cuộc đi vào lòng đất tối tăm, khủng khiếp; căn nhà đã được một “lực lượng vệ sinh” bí ẩn chu đáo dọn sạch từ bãi chiến trường (sau này nhân vật chính phát hiện ra người dọn nhà cho gã là cô thủ thư ở thư viện, khởi đầu cho một tình yêu oái ăm nhưng cũng rất đẹp). Thấy nhà cửa ngăn nắp khi trở về là một cảm giác tuyệt vời.

Nhưng tôi biết căn nhà này cần nhiều hơn thế để có cảm giác là nhà tôi. Nhìn quanh một lát, tôi định sẽ chạy đi mua một cành đào rừng trang trí để có không khí Tết, và giăng đèn neon các thứ nữa. Hôm nay là hai mươi chín Tết. Không phải quá sớm cho các việc mua sắm nữa. Tôi quyết định sẽ chẳng mua gì cả. Dẹp hết mấy trò đào, quất với cúng bái lễ lạt đi, tôi chỉ muốn cái Tết này sẽ thật nhẹ nhàng và nhẹ nhàng. Cần gì cứ phải có đào, quất thì mới có Tết cơ chứ. Bà ngoại tôi không may qua đời vài tuần trước nên Tết này nhà tôi sẽ hầu như chẳng đi đâu chúc Tết ai cả. Ngoài một số người thân thiết, tôi không có nhu cầu đặc biệt phải gặp ai (các Tết trước tôi vẫn đều đi thăm anh em bạn bè khá đầy đủ), nên về cơ bản thì tôi sẽ có bốn ngày Tết hoàn toàn nghỉ ngơi. Có lẽ tôi sẽ chỉ dọn dẹp qua nhà cửa một chút, chuẩn bị ít bánh kẹo trong trường hợp nhà có khách, mua một ít rượu, đón con mèo về, thay ga gối; đã đến lúc phải thay ga gối rồi, tôi cần một cái mùi khác trong căn nhà mình, mùi hương – đôi khi chúng mang ý nghĩa rất gần với linh hồn, phải, tôi cần căn nhà có một diện mạo khác, một linh hồn khác, nó đã quá cũ kĩ; và chuẩn bị dăm cuốn sách để đọc. Tôi không nghĩ ra việc gì đặc biệt hơn để làm nữa.

Tôi chạy ra phố một lúc, cái nắng nóng giờ tan tầm đã tiêu tan bớt đi bởi không khí lạnh khe khẽ tràn về. Hai chín Tết nhưng ngoài đường vẫn đông đúc đến đáng ngạc nhiên. Mọi người hối hả, tấp nập, nhưng không ai căng thẳng như người ta vẫn hay kêu ca. Tôi mang bộ chăn ga gối mới từ mẹ về và đón cả ChiChi. Lần này về thì chỉ còn mỗi ChiChi thôi, tôi bỗng thấy nhớ Tuti da diết, nó còn chưa có nổi một cái Tết đầu tiên. Về đến nhà, tôi nhanh chóng thay bộ ga gối cũ, vứt hết đống quần áo bẩn vào máy giặt, đốt tinh dầu lên, xịt phòng, cho mèo ăn, bật nhạc. Căn nhà đã có dáng vẻ của tôi hơn. ChiChi hoảng hốt một chút lúc đầu khi mới về rồi sẽ quen ngay với địa bàn mới, nhanh chóng lăn ra ngủ. Mùi tinh dầu toả ra khắp nhà mang lại khoái cảm dễ chịu. Không gian tôi sống cứ phải có một chút mùi hương dụ hoặc thì mới chịu được. Đã xong hầu hết mọi việc quan trọng, tôi đột nhiên rất thèm uống rượu vang nên khui một chai dở ở trên kệ xuống, mang ra sofa nằm đọc sách. ChiChi vừa tỉnh ngủ, đang lục lọi gì đó ở xung quanh. Mùi của mèo là một phần trong linh hồn của ngôi nhà này. Âm thanh có sức sống nhất ở đây là tiếng gừ gừ của mấy con mèo khi chúng yên tâm dựa dẫm vào người tôi ngủ. Nhạc đang chơi của Regina Spektor, album Essentials, vang lừng cả không gian xung quanh, tẩy trần đi không khí trầm mặc. Căn nhà đã tiếp nhận tôi trở về.

Tôi ngồi ở sofa, uống vang đỏ, ăn thịt bò khô. Mặc kệ là thịt bò khô có hợp nhắm với vang đỏ hay không. Lần cuối tôi uống vang là đợt Lộc về Việt Nam mấy tuần trước. Chúng tôi uống vang, đôi khi uống lẫn cả whiskey pha đá lạnh, đến khi nói năng tếu táo thì đi ngủ. Những cơ hội ngồi với bạn thân như thế trong cuộc sống hiện đại càng ít, và càng đáng quý trọng. Tôi đọc nốt tiểu thuyết Xứ sở kỳ diệu vô tình. Đôi khi tôi thấy mình trong chính cuốn tiểu thuyết ấy. Có đoạn nhân vật chính cũng trở về nhà, cởi quần áo, chui lên giường và nhâm nhi whiskey. Đối với gã, đó là một nghi thức ngọt ngào khi đi làm về, là mấy phút đồng hồ yêu thích. Hắn cũng mang sách lên giường đọc và nghe nhạc như tôi. Gã yêu mấy phút ấy như người khác yêu mặt trời lặn hay yêu không khí trong lành. Một tiểu thuyết thật sự tuyệt vời. Tại sao tôi lại bỏ lỡ tiểu thuyết này của Murakami nhỉ? Nếu nói nữa thì tôi sẽ chỉ sa đà vào tán dương, nên tôi sẽ dành kể về cuốn sách nặng ký đầy thu hút này vào một lần sau. Regina Spektor đang hát đến The Call, bài hát tôi đã mê say từ rất lâu. Giọng của nàng da diết, sương khói, đầy ám ánh. It started out as a feeling, which then grew into a hope. Mọi thứ bắt đầu bằng một xúc cảm vu vơ, bỗng biến thành một niềm hi vọng lớn lao sau đó… Cuộc đời có khi đổi thay hoàn toàn từ những khởi đầu giản dị như thế. Những nhân duyên đã đến và sẽ đến. Chúng mình sẽ và chúng mình sẽ.

Chai vang đã hết. Đêm còn rất dài. Tôi quyết định uống nốt chỗ whiskey pha đá lạnh còn lại. Một cảm giác chập chờn xuất hiện. Ánh sáng trong căn phòng không hiểu sao tối dần, như thể ánh sáng đã bị rút đi đâu mất; thay vào đó là ánh trăng dội từ cửa sổ vào, nhưng tôi biết chắc là không hề có trăng ở ngoài kia. Ánh sáng vàng vọt phát tán vào từ bên ngoài trông rất giống ánh trăng, nhưng tuyệt đối không phải, nó chỉ là một thứ gì đó giống trăng mà thôi. Ánh sáng chiếu thẳng vào chỗ tôi ngồi, như thể đèn sân khấu chiếu vào người biểu diễn, khiến cho không gian xung quanh trở nên tăm tối. Tôi cũng không để ý lắm, cứ thế ngồi uống nốt chỗ whiskey còn lại. Chiếc bóng của tôi trải dài đến tận chân tường, nhờ ánh trăng (hoặc một thứ gì đó giống như ánh trăng) mà nó trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Tôi ngồi đó, lặng lẽ nhìn vào chiếc bóng của mình.

Cho đến khi tôi cảm thấy, chiếc bóng hình như không làm theo đúng các động tác của mình nữa.

Cụ thể là khi tôi nâng cốc whiskey lên để hớp cho cạn, cái bóng vẫn khoanh tay ngồi đó nhìn tôi.

Nó cứ nhìn chằm chằm vào tôi, như lúc nãy tôi nhìn chằm chằm vào nó.

Cũng có lẽ tôi đã uống quá nhiều whiskey, nhưng rõ ràng là tôi không thể nhầm được. Chiếc bóng vẫn ngồi đấy, cái tư thế vừa xong của tôi, và nhìn chằm chằm vào tôi. Hay là cái bóng đã bị đóng băng, hoặc giả nguyên lý ánh sáng thế nào đó đã khiến cái bóng không thể di chuyển được theo chính chủ của nó nữa nhỉ?

Tôi chịu không hiểu nổi, bản thôi tôi cũng không dám chắc có thực ở đằng trước mặt mình là cái bóng hay không; mọi thứ cứ lấp loá bởi thứ ánh sáng le lói chiếu rọi từ ngoài vào, làm tôi không phán đoán nổi tôi đang nhìn vào cái gì, đang ngồi ở đâu nữa. Có thể tôi đã ngủ rồi cũng nên.

Nhưng tôi thấy không thoải mái lắm khi ở đằng trước là cái bóng đen cứ nhìn chằm chằm vào mình, tôi còn cảm giác nó đang thiểu não nữa, y hệt nỗi thiểu não của tôi, nên tôi quyết định thử đứng dậy, biết đâu sẽ thoát khỏi cái ảo giác whiskey này. Cái bóng vẫn ngồi đấy. Nhưng rất chậm thôi, nó từ từ đứng dậy, dối diện với tôi.

Tôi biết là sẽ phải chấp nhận sự kì quặc này. Hay là ma chăng? Tôi vốn vô thần nên không tin vào ma quỷ lắm. Ma quỷ chỉ là khái niệm. Con người tạo ra ma quỷ chính là từ nỗi sợ hãi của mình. Nhưng cũng có thể có ma thật, ai mà dám chắc được. Nhất là trước mặt tôi đang là một cái bóng đen kì quặc cứ chằm chằm nhìn mình. Nhưng nếu có là ma thì tôi cũng đếch quan tâm. Ma quỷ mà là phản vật chất thì nó cũng sẽ chẳng làm gì được mình, còn nếu là vật chất thì tôi sẽ dễ dàng đấm chết nó, nếu quả thật nó cân bằng với người về mặt sức mạnh. Tôi trở nên ít sợ ma quỷ ,cái chết hơn sau khi chứng kiến người ta bốc mộ ông bà tôi vài năm trước. Đêm đó, tôi ngồi giữa cánh đồng, canh mộ của hai ông bà để chờ đến giờ làm lễ và thay áo quan. Nửa đêm rất lạnh, bãi tha ma đông nhung nhúc các ngôi mộ liền kề, nhưng tôi không hề thấy sợ hãi, thậm chí còn gà gật được. Có lẽ ông bà tôi đã phù hộ yên lành cho tôi chăng. Trong tôi chỉ ngập tràn một nỗi nhớ tiếc ông bà khi còn sống, và niềm thanh thản khi được ở gần ông bà vào đêm đó đến vậy.

Cái bóng đen của tôi nhìn tôi một lúc, rồi nó lặng lẽ bước đi, mặc cho tôi sửng sốt đối diện. Bóng đi khắp phòng khách, sờ mó vào khắp nơi, ở chỗ nào cũng tỏ ra luyến tiếc, đau khổ. Tôi ái ngại thay cho nó. Rồi tôi thấy nó đứng rất lâu ở trước bếp; bỗng ôm lấy một cái bóng khác, bóng của một người phụ nữ bỗng đâu xuất hiện, từ đằng sau, cũng được tạo ra từ ánh trăng vàng vọt ở bên ngoài. Hai chúng nó có vẻ quấn quít. Một lúc sau, chúng buông nhau ra, rồi bắt đầu xoay xở ở bếp để làm gì đó thoăn thoắt mà tôi hiểu là đang nấu nướng. Hai cái bóng cứ nhảy nhót quấn quít như thế, trong khi vẫn làm các động tác trông rất giống như thái thịt hoặc chiên xào gì đó. Hẳn là một bữa thịnh soạn. Tôi vừa sợ hãi vừa tò mò cứ ngây dại nhìn ngắm hai cái bóng ngu xuẩn không biết ở đâu ra làm hết trò này đến trò khác ở nhà mình. Nhưng nhìn ngắm chúng, tôi nhớ đến một thời quá vãng xa xôi mà ký ức của mình đang trở nên mờ mịt hết cả.

Một trong hai cái bóng biến mất, chỉ còn lại bóng của tôi. Nó ra bàn ăn ngồi một mình, lặng lẽ nhìn vào chiếc bình mang tro cốt của con Tuti ở góc tủ. Rồi tôi thấy bóng của con Tuti nhảy lên lòng nó, kêu gừ gừ rất thật. Bóng của Tuti hơi khác một chút, không đen kịt như bóng của tôi mà có hình dáng màu sắc hơn hẳn. Nói cho đúng ra, bóng của Tuti dần trở thành một phiên bản của chính nó, không phải bóng nữa, mà là hình thật, với lớp lân tinh le lói bao phủ xung quanh lớp lông bóng mượt của nó. Tôi dần nhìn thấy bộ lông của nó, đôi mắt của nó, đôi tai vểnh ngược lên của nó, và cái đuôi dài như đuôi cáo tuyệt đẹp của nó, rõ ràng như thể nó đang thực sự ở đây. Tôi thấy bóng của tôi cầm con chuột đồ chơi lên vứt sang một góc, tức thì Tuti sẽ lao theo ngay để nhặt lại, tha về chỗ cũ. Đây là trò mà tôi vẫn hay chơi với con Tuti, không phải con mèo nào cũng biết tha hồ về chỗ cũ như vậy. Rồi tôi thấy Tuti nhảy nhót, đùa giỡn với chiếc bóng của mình. Tuti chạy đến đâu thì đám lân tinh bao quanh nó đi theo đến đó, làm rực sáng cả một góc phòng.

Khi Tuti biến mất, đám lân tinh kia cũng dần tan biến vào hư không. Đôi mắt của Tuti biến mất sau cùng, nhìn thẳng vào tôi, tròn xoe ngơ ngác, như lần đầu tiên tôi mang nó về nhà.

Tôi mệt mỏi ngồi thụp xuống sofa. Chai vang và whiskey lăn lóc. Tôi với lấy cốc whiskey đã tan ra vì đá, húp cho cạn nốt dù không còn gì. Những ký ức nặng nề đè nặng xuống vai tôi, sức nặng của nó khiến không khí xung quanh cũng trở nên cô đặc, ngột ngạt. Tôi mở cửa ra cho thoáng dù không có một cơn gió nào. Ánh trăng vẫn xanh xao ở đằng xa, chiếu vào tôi yếu ớt, nhưng xuyên thấu tâm trạng tôi một nỗi cực cảm vô bờ.

Chiếc bóng ngồi xuống đối diện tôi, tiếp tục nhìn chằm chằm vào mình. Tôi và nó, như hai cái bóng, nhìn chằm chằm vào nhau như hoá đá, dù tôi biết tôi chẳng thực sự nhìn vào cái gì. Tôi chỉ thấy lấp lánh một nỗi buồn thảm trong ánh nhìn của nó, soi vào đó tôi còn thấy mình buồn thảm hơn. Rồi tôi nhận ra chiếc bóng đen kịt của mình dần có hình dáng, nó không chỉ là một chiếc bóng phẳng dẹt nữa mà đã hoàn toàn trông giống con người, hay là giống chính tôi. Lớp da thịt của nó đổi sang màu hồng, đôi mắt của nó phát sáng ấm áp trong đêm, tôi thậm chí dường như còn nhìn thấy nó mấp máy cười qua chuyển động rất khẽ ở làn môi. Bóng đặt một tay lên vai tôi. Tôi đưa tay ra chạm vào nó. Nhưng bàn tay tôi đã không còn sức nặng thông thường nữa mà trở nên nhẹ bẫng. Tôi thấy mình biến dần thành một màu đen kịt.

Có thể tôi đã trở thành chính chiếc bóng của mình. Trong khi nó biến thành tôi. Nếu thế thì khi ánh trăng kia không còn nữa, tôi sẽ biến mất chăng. Điều đó ngang gì là cái chết? Mà nếu chết thì sao, tôi càng không quan tâm. Đã từ lâu, ham muốn được chết của tôi cũng lớn như ham muốn được sống, đôi khi còn lớn hơn. Như Murakami nói, bản thân cái chết không làm tôi sợ lắm. Như lời Shakespeare: Ai chết năm nay thì năm sau khỏi phải chết. Tôi không có quá nhiều thứ đặc biệt phải luyến tiếc ở cuộc đời này, thế thì có gì đáng sợ đâu? Người ta ai cũng phải chết kia mà, nhất là khi tôi có thể sẽ chết khi đã trở thành cái bóng của cái bóng của mình, như thế thì lại tuyệt đối không có gì đáng tiếc.

Cái bóng đặt tay lên tôi, tôi biết là nó muốn an ủi cho những vết thương tôi đã mang trong lòng. Nhìn rất sâu vào đôi mắt đang trở nên đen kịt của tôi, ánh mắt của nó soi chiếu đến tận cùng sâu thẳm tâm hồn còn sót lại chưa bị đóng băng đen kịt. Tôi thấy đôi mắt của nó toả ra một đám lân tinh nhỏ rực rỡ như những ngọn lửa, dịu dàng phủ xuống quanh tôi như những thiên sứ phúc lành.

Ánh trăng yếu dần rồi tắt hẳn. Bóng của tôi thoi thóp dần rồi biến mất trong hàng vạn điểm lân tinh rơi rớt. Màu đen kịt trên cơ thể tôi biến mất, trả lại hình dạng nguyên thuỷ con người cho tôi.

Whiskey bắt đầu phát huy tác dụng. Tôi biết là mình không thể cưỡng lại được nữa. Cơn buồn ngủ xâm chiếm dữ dội như cuộc xâm lăng của người ngoài hành tinh khác. Tôi bị kéo tuột vào giấc ngủ như rơi xuống vực thẳm. Tiếng kêu của con Tuti là âm thanh cuối cùng tôi kịp nghe thấy.

Ở ngoài kia ngập tràn cái âm thanh ấy, âm thanh của im lặng.

Sáng hôm sau thức dậy, tôi biết mình đã trở thành một người khác. Bóng cũng là người mà người cũng là bóng. Cái bóng đã không còn tách rời tôi nữa.

Ngôi nhà này cần có linh hồn.

Tôi đi tìm linh hồn cho nhà mình.

Biết không em…

February 1, 2017  Leave a comment

Phương

Trên chuyến bay hôm ấy, tôi đã nghe toàn bộ nhạc của Lê Uyên Phương. Cứ lúc nào cần tìm một thứ gì đấy, tôi lại nghe Phương. Một thứ gì đấy, nếu ai nghe hoài hoài thứ nhạc khắc khoải lo âu của gã trai giang hồ phiêu bạt, sẽ hiểu. Âm nhạc của Phương tràn đầy một sự giục giã. Giờ này còn nhìn nhau, ngày mai ta không còn thấy nhau.

Nơi đây, khoảnh khắc này, và ký ức.

Mười năm kể từ nghe tân nhạc; khởi sự bằng Trịnh, tôi đã nương theo dòng chảy tình ca mà tiến tới rất nhiều tri kỷ. Dòng chảy ấy lần lượt cuốn vào trong nó những lời thống khổ của Trầm Tử Thiêng, Từ Công Phụng, Phạm Đình Chương, rồi chầm chậm đưa đẩy tôi về miền đồi nắng gió Đà Lạt để gặp Phương, tri kỷ sau cùng.

Mang trong người dòng máu giang hồ của thân phụ, ở tuổi đôi mươi, Phương đã đi bôn ba khắp miền duyên hải, làm đủ mọi nghề để kiếm sống, trước khi trở về lại Đà Lạt và khởi sự sáng tác. Âm nhạc của Phương là âm nhạc dành cho những tâm hồn trôi dạt, để kệ cuộc đời lặng lẽ cuốn đi. Tôi không có thiện cảm mấy với những kẻ sắp xếp cuộc đời ngăn nắp, cầu toàn, toan tính định trước, bám víu vào sự an toàn, cả đời chỉ ở trong một thứ; tôi luôn thấy ở họ nỗi sợ hãi những sự thay đổi, mà lại còn cực kỳ nhàm chán. Tôi chỉ thấy thu hút với những kẻ vứt bỏ cuộc đời mình trên những con thuyền lênh đênh dạt sóng, những kẻ bất quy tắc, những kẻ chấp nhận dấn thân, vượt ngoài khuôn khổ. Những kẻ trôi dạt liều lĩnh ấy chẳng còn gì để mất, nên đồng thời cũng chất chứa rất nhiều chân thật.

Phạm Duy nhận xét âm nhạc của Phương là thứ âm nhạc không mang tham vọng lớn, hoàn toàn thuần tuý chỉ là âm nhạc của dục tình. Tôi cũng thấy những kẻ mang tham vọng lớn thật là thống thiết, họ cứ cố leo lên cao mãi, đôi khi xảy chân vào vực thẳm cuộc đời không sao trồi lên lại nổi. Ngược lại, những kẻ mong ước nhỏ nhoi, thậm chí không mang tham vọng, cứ thản nhiên đi theo bản năng vẫy gọi, lại rất nhiều khi dựng xây được những kỳ tích phi thường. Lê Uyên Phương chính là nhạc sĩ lớn nhất của Việt Nam, nhạc sĩ tuyệt đối, nếu chỉ xét về phương diện tình. Phương đã sáng tạo ra hẳn một dòng nhạc; trước chưa có dòng nhạc nào như thế, sau này cũng không có dòng nhạc nào như thế, chân chính biểu trưng cho tình yêu ở mức độ cao nhất, và thuần tuý nhất, của nó – dục tình.

Tôi nhớ đến Phương của quãng thời gian rạo rực tuổi trẻ, ngồi lặng lẽ bên Lê Uyên trên đồi thông Đà Lạt, trao cho nhau những hẹn thề nắng gió. Thời đó gã giang hồ đã gần ba chục tuổi đầu, chẳng còn lành lặn sau những đổ vỡ và phiêu bạt đường đời, mang trên mình rất nhiều vết thương, bỗng phải lòng cô bé con gần nhà, lúc đó mới ở tuổi đôi mươi, còn ham bay nhảy; mà không biết rằng đó chính là thú đau thương định mệnh sẽ đi theo suốt kiếp. Chúng ta có Phương từ lúc đó. Nhưng mầm mống bệnh tật, cùng cấm cản nghiệt ngã của gia đình, đã không cho chàng được tự do yêu đương, nỗi ám ảnh chia lìa đã yểm vào âm nhạc của Phương những lời ca vùng vẫy, tuyệt vọng, càng khiến cặp song ca tài tử đó quấn quít nhau hơn trên sân khấu, và trong những nốt nhạc. Chàng ôm đàn, nàng hát, tình tứ như trong cuộc ái ân. Cuộc tình trốn chạy và hạnh ngộ mười lăm năm từ thủa hồng hoang Đà Lạt ấy đã hoàn tất cuộc đời khắc khoải của gã trai giang hồ trong những bản tình ca buồn bã.

Mỗi khi thấy mình chấp chới lo âu, tôi lại nhớ đến Phương. Tôi đã không biết là Phương sẽ có ý nghĩa đối với mình như thế, cho đến khi âm nhạc đó nói cho tôi hiểu, những đổ vỡ, đắng cay chỉ là để thú đau thương được nếm trải đến tận cùng.

Cho tôi yêu em nồng nàn
Cho tôi yêu em nồng nàn
Dù biết yêu tình yêu muộn màng
(Tình khúc cho em)

February 1, 2017  Leave a comment

Lân tinh

Lân tinh

“Céline có một quan niệm rất đơn giản về bất hạnh: nhìn chung, ta chẳng bao giờ thực sự biết về bất hạnh của người khác, nếu người đó vẫn ngủ được, thì chẳng có gì là bất hạnh cả, chỉ cần ngủ, mọi thứ còn lại không mấy ý nghĩa” – (Nhị Linh).

Một giờ đêm, không ngủ được, tôi quyết định ra ngoài đi bộ. Lần cuối cùng tôi thực sự bị mất ngủ, tháng bảy thì phải, cũng không gần đây lắm. Còn rất ít thứ có ý nghĩa đến mức có thể khiến ta trằn trọc ở trên giường. Mọi thứ vô nghĩa bị đốt thành tro bụi ngay khi mặt trời lên. Nắng mới là thứ có khả năng tàn sát thảm khốc. Chỉ cần ngủ, mọi thứ còn lại không mấy ý nghĩa, vì khi thức dậy chúng ta đã trở thành một người khác. Giấc ngủ cuốn trôi đi hết thảy. Những dư âm thoáng chốc của ngày hôm qua.

Tôi rẽ trái ở ngã tư, đi thẳng đến một nơi tôi chưa từng đến bao giờ, ngang qua nhiều ngõ nhỏ đặc biệt tối. Tôi trở nên không còn e dè bóng tối nữa khi đã nằm trong cái bóng tối tuyệt đích của đường hầm trong ngôi chùa Thanh Thuỷ ở Kyoto. Hai bài By the wayCalifornication của Red Hot Chili Peppers được ngẫu nhiên bật liền nhau. Xác suất để hai bài tôi thích nhất được bật liên tục là vô cùng thấp, mới chỉ có một lần; thế mà đêm nay chiếc iPhone lại chiều tôi như vậy. Tôi đã từng nói là giữa tôi và chiếc điện thoại có một mối quan hệ tâm linh nào đó, trong hầu hết trường hợp nó thường biết tôi muốn nghe gì, để hoặc là nâng tôi dậy hoặc là dìm tôi hẳn xuống đáy – như thế nào thì cũng đều tốt cả vì sợ nhất là cứ trôi ở lưng chừng. Chúng ta lost nhất là bởi không ngã hẳn về bên nào mà cứ chới với ở chỗ không có điểm tựa ấy. Nếu đã rơi thì hãy rơi đến tận cùng. Chính ở dưới đáy giếng là nơi Toru tìm ra đường hầm để đi vào một thế giới khác, thế giới bên trong của Kano Creta (Chim vặn dây cót). Đêm nay, trong cái tâm trạng cuồng loạn rất cần tìm đến Rock, tôi chỉ muốn qua khu Ratchada và ném mình vào một quán bar nào đó có nhạc sống chơi đến muộn và uống bia lạnh, bết xê lết được thì càng tốt. Anthony Kiedis đang hát đến bài Parallel Universe. Không cách gì hiểu được âm nhạc của Red Hot Chili Peppers trọn vẹn. Âm nhạc của họ có mọi thứ. Đại đa số các bài hát được Anthony Kiedis viết từ khi còn trẻ, nói về ma tuý, nghiện ngập, tình dục, phân biệt chủng tộc, và đặc biệt là cái chết vì Anthony đã chứng kiến những người bạn thân của mình lần lượt ra đi. Âm nhạc của Red Hot Chili Peppers đi rất gần với xã hội hippi thời đó, một thứ âm nhạc chán chường nhưng không u uất, tuyệt vọng.

Tôi bỗng nhớ đến cái đêm lang thang trong rừng ở Seinäjoki. Tháng mười hai, tuyết phủ lạnh lẽo, chúng tôi đi party về vào đêm thứ Bảy, khật khừ đến nỗi không còn nhớ rõ lối đi. Thay vì về nhà, tôi bỗng có cái ham muốn ngồi ở bìa rừng ở phía sau lưng khu tập thể. Lũ sóc đã đi ngủ cả. Con suối đã dần đóng băng. Từng hàng bạch dương khẳng khiu oằn mình trong bão tuyết. Tôi phong phanh ngồi đó, giữa cái lạnh âm, không còn nhớ rõ mình đã tỉnh hay thức, nghĩ về tuổi trẻ tự do vô định của mình. Thời đó tôi vẫn còn nghe Coldplay. Giọng của Chris Martin da diết, “You are… you are… you are… Home, where I wanted to go. Home, where I wanted to go…”. Tôi nằm trên tuyết, hơi thở đóng băng ngay trên không khí, nhắm mắt lại. Tôi đã may mắn không thiếp đi ngay tại bìa rừng để rồi trở thành một người tuyết khô khốc vào hôm sau, nhưng tôi cũng không nhớ đã về nhà như thế nào.

Tôi quyết định đi thẳng mãi, vượt qua những ngã tư không có bóng con người. Chỗ này đã cách nhà tôi khoảng hai cây số. Tôi sẽ đi bộ dọc hết con đường này để đến một nơi rộng rãi có thể nghỉ chân, hoặc cứ thế đi mãi. Tôi nhớ đến đoạn đi bộ giữa Naoko và Toru trong Rừng Nauy, một cuộc đi bộ lặng lẽ dài khủng khiếp dọc Tokyo, Naoko không nói gì cả. Họ đã đi bộ cùng nhau suốt những ngày cuối tuần của mùa hè năm ấy, trước sinh nhật tuổi hai mươi của nàng. Những vỉa hè đặc biệt nhỏ ở Bangkok, thảng hoặc đôi khi có những dãy cầu thang bắc ngang qua đường dành cho người đi bộ choáng hết cả làm tôi phải bước xuống lòng đường. Từng đoàn ô tô và xe phân khối lớn vùn vụt lao qua như ánh chớp. Phi nhanh đến mức tạo thành một gia tốc lạnh lẽo chỉ chực hút thẳng người ta vào trong nó. Màn đêm mang đến những cạm bẫy vô hình. Rất đột ngột, từ phía đằng sau của tôi vụt lên một cô gái; có lẽ từ ngã tư bên kia rẽ sang. Nàng bước song song với tôi, không hề do dự. Tôi đang chìm đắm trong âm nhạc của Red Hot Chili Peppers, nghe Anthony hát Road Trippin’ xa vắng; “It’s time to leave this town. It’s time to steal away, let’s go get lost anywhere in the USA…”. Đoạn riff từ chiếc guitar gãy đôi trong video của bài này mang đầy tính giục giã chạy trốn. Tôi và cô gái không quen cứ thế bước đi bên cạnh nhau. Tôi thấy không thoải mái, ngại thì đúng hơn, một cô gái xa lạ đi cạnh mình giữa đêm, thế mà nàng lại thản nhiên như không. Tôi đã cố tình đi chậm lại một bước, nàng cũng đi chậm lại, tôi đi nhanh hơn, nàng cũng đi nhanh hơn. Tôi chịu thua. Thôi được, thích đi cùng cũng được, đằng nào thì tôi cũng chỉ đang đi bộ thôi. Đèn vàng hắt xuống hai chiếc bóng của chúng tôi trải dài trên phố. Nhạc đang chuyển sang Easily. Calling calling for something in the air. Calling calling I know you must be there. Nàng không hề quay sang nhìn tôi. Tôi cũng gần như không liếc nhìn nàng. Chúng tôi là hai kẻ lữ hành lững thững nhất thế giới. Màn đêm dày đặc ở xung quanh. Khi đi sau nàng một chút, tôi để ý nàng mặc chiếc áo để lộ toàn bộ lưng trần. Hoàn toàn không mặc áo ngực. Tay nàng buông thõng. Nhìn theo đường cong phập phồng trước ngực thì có thể quả quyết phía sau lớp áo cực kỳ đáng phấn phởi. Tóc nàng ngắn sau tai một chút. Đó là tất cả những gì tôi biết sau một phần mười giây liếc vội sang bên. Có lẽ ở giữa màn đêm thẳm này thì một kẻ xa lạ là tôi còn an toàn hơn một gã vô gia cư nào đó, dù sau một cuộc rượu chuếnh choáng với bạn bè lúc nãy thì tôi trông cũng không khác một gã vô gia cư cho lắm. Nhưng nàng đã chọn tôi để đi cùng, những điều vô lý vẫn thỉnh thoảng xảy ra như thế. Tôi đang phân vân sẽ bắt đầu một cuộc hội thoại ngu ngốc như thế nào thì trước mặt tôi là một ngã tư nữa. Nàng không hề giảm tốc độ lại cho tôi biết là nàng sẽ tiếp tục đi tiếp. Chần chừ một lát, tôi quyết định đi lên trên cầu thang đi bộ. Chúng tôi chia tách nhau từ lúc đó. Đêm còn rất dài, tôi thực ra đang muốn ở một mình để tiêu tán đi nỗi buồn không tên được chuốc bởi whiskey và đá lạnh. Ở trên cầu thang nhìn xuống, tôi thấy nàng hơi khẽ liếc sang một chút rồi bước đi thẳng. Chiếc bóng của nàng biến mất rất nhanh ở cuối đường. Anthony bảo với tôi, “… I’m left alone in another zone” (This Velvet Glove). Tiếng guitar bass vang lên chát chúa kéo thốc tôi vào lãnh địa vô hình của nó.

Tôi rẽ ngang qua một ngõ nhỏ tăm tối, nơi sẽ dẫn tới một quảng trường rộng lớn nối liền bến tàu điện trên cao với những dãy nhà cao tầng. Ở dưới chân một khu tập thể cũ có hai con mèo đen đang uể oải ăn đêm. Tôi thử bắt chuyện với nó, rất ngạc nhiên một trong hai con chạy ngay lại. Lũ mèo hoang ở Bangkok thường chẳng mấy khi để ý đến con người. Tôi phải hết sức vất vả nịnh nọt thì mới có thể vuốt ve được chúng một lúc, thế nhưng nàng mèo đen này thì lại thân thiện đến sửng sốt. Tôi nhận ra là mình thèm chơi với mèo. Lũ mèo hoang ở Bangkok tinh ranh ma quái hơn lũ mèo hoang béo múp và đặc biệt thân thiện với người ở Kyoto nhiều. Mèo hoang du đãng ở Bangkok luôn luôn cảnh giác, dù đã nằm yên trong lòng người. Chúng có vẻ là giống mèo hơn cả. Tôi vuốt ve nó, đôi lúc nó đứng yên, đôi lúc chỉ trực lao đi, tôi nhận ra là lũ mèo hoang đặc biệt giống mình. Về cơ bản thì lũ mèo là loài thế nào cũng được. Bạn vuốt ve chúng cũng được, mà không để ý đến chúng cũng không sao. Lũ mèo không thực sự coi điều gì là quan trọng cả, chúng cũng không coi lũ người thực sự là người. Nhưng chúng vẫn là sinh vật cực kỳ đáng yêu. Tôi nhớ đến hai con mèo của tôi đang gửi ở nhà mẹ nuôi hộ. Chúng tôi đã xa nhau quá lâu rồi. Con mèo đen vẫn quấn quít dưới chân tôi, con còn lại chỉ hờ hững đứng từ xa nhìn. Một điều nên biết, mèo đen là loài đặc biệt tinh khôn trong giới nhà mèo! Chúng luôn bình tĩnh, điềm đạm, nhìn mọi vật với con mắt dò xét kín đáo. Vẻ đẹp của mèo đen là vẻ đẹp của con báo nhỏ đang kiên nhẫn rình mồi. Tôi đứng lên, vờ bước đi để xem nó có chạy theo tôi không. Nó chạy theo, bước đi cùng tôi một đoạn. Một con mèo đen hết sức thú vị, có lẽ đã lâu nó đã không gần con người. Tôi dừng lại, nó lại quấn lấy chân tôi, và như ngứa răng, cắn vào gấu quần tôi nghịch ngợm. Có thể nhận ra rất nhiều thứ từ việc cắn của một con mèo; về cơ bản thì lũ hung hăng này không thật lòng muốn cắn con người lắm, trừ khi hết sức tức tối. Nó cứ gặm lấy gấu quần của tôi, rồi đột ngột cắn một nhát vào mắt cá chân tôi đau điếng. Ôi cha, một miếng cắn thật sự là cắn. Miếng cắn dằn mặt thể hiện sự hả hê hết mức của nàng mèo đã lâu lắm không có sự quan tâm của con người. Nàng cắn rất ngọt. Tôi khập khiễng bước đi, nó vẫn theo tôi; tôi đã yên tâm là mình lại có kẻ đồng hành thì nàng đột ngột dừng lại rồi quay ngoắt. Lũ mèo là thế, ta không thực sự biết được đến lúc nào thì chúng nó không cần ta nữa. Màu đen của nó hoà lẫn rất nhanh vào màu đen của ngõ vắng rồi khuất hẳn. Nó biến mất nhưng cái đau từ vết cắn vẫn ở đây. Từ bé đến lớn, trên người tôi vô số vết sẹo từ mèo cắn. Đôi khi, những vết xước dài trên tay gợi lại cho ta những ký ức ngọt ngào.

Quảng trường rộng lớn nằm giữa một đại lộ bốn phía là nhà cao tầng. Đây là địa điểm mà ban ngày sẽ thu hút rất nhiều học sinh đến chụp ảnh kỷ yếu và từng nhóm bạn bè cosplay chụp ảnh tấp nập. Nghệ sĩ đường phố cũng thỉnh thoảng vác đàn ra hát ở đây, thứ âm nhạc trẻ thịnh hành dành cho thanh niên. Vậy mà đêm nay chỉ có mình tôi. Đứng giữa quảng trường đón gió, từng hàng xe vẫn chạy vùn vụt ở dưới đường, tôi như vẫn thấy hàng trăm linh hồn đang nháo nhác chung quanh. Một vẻ yên tĩnh mà vẫn vang vọng lại rất nhiều tiếng động. Tôi dựa lưng vào lan can, nhìn xuống đường. Ánh đèn từ hàng trăm chiếc xe dọi lại như những chùm lân tinh lập loè trước mặt. Một không khí cực kỳ cô liêu. Tôi thấy nỗi cực cảm của mình. Red Hot Chili Peppers chơi Purple Stain. Chad Smith như đang lên đồng. Đoạn solo trống dài như một bản trường ca trong bài này vô cùng lừng lẫy, đã làm tôi ngây ngất đến thắt ngực.

Nếu đi tiếp thì sẽ hoàn toàn lạc lối. Cơn buồn ngủ cũng đã dần xâm chiếm tôi rồi. Tôi chuếnh choáng bước xuống đường để quay trở về. Ma lực từ những ánh chớp xe cộ bên đường vẫn tiếp tục quyến dụ tôi, nhưng tôi đã đi sát lề trái để ngăn chặn cơn ham muốn lao mình qua đường bất chợt. Gió lộng lẫy ở trên cao. Tôi bước lên trạm BTS để có thể nhìn ngó thành phố trong phút chốc. Ba giờ sáng. Những tiếng lao xé gió của xe cộ phía dưới làm rách toạc màn đêm. Tôi đứng ở lan can, nhìn xe vùn vụt qua. Bỗng có ham muốn nhảy xuống mãnh liệt. Độ cao khoảng hai mươi mét vẫn dụ dỗ không ngừng. Trong đầu tôi luẩn quẩn những câu thơ của Vi Nhất Tiếu…

Chính là em
vầng dương nào vẫn đỏ
trên đỉnh sầu oan nghiệt của chia phôi

“trên đỉnh sầu oan nghiệt của chia phôi…”, tôi lẩm bẩm, như những dòng thần chú mặc niệm. Ký ức vụt qua lạnh lẽo. Chính ở lúc đó, tôi nhìn thấy một cô gái, cũng đứng ở phía bên kia lan can như mình.

Tôi không rõ nàng đã ở đó tự bao giờ vì lúc tôi lên đây thì chỉ có một mình. Chỉ biết là khi tôi ngẩng lên thì đã nhìn thấy nàng ở đó rồi. Giống như tôi, nàng nhìn chăm chăm xuống đường. Nàng mặc một chiếc váy ngắn tối màu, áo sơ mi thuỷ thủ, tóc dài thả trôi, bồng bềnh sương khói. Mặt nàng lộ liễu một ham muốn nhảy xuống còn rõ ràng hơn tôi. Tôi cứ đứng đó, kinh ngạc nhìn nàng. Ở khoảng cách này, nếu thực sự nàng muốn nhảy xuống thì chắc chắn tôi cũng không thể kịp chạy đến được. Tôi bỗng thấy như mình bị đặt vào tình thế là chứng nhân cho một kẻ sắp kết liễu cuộc đời mình, mà chỉ ít phút trước chính tôi cũng có khao khát đó. Nhưng tôi lại thấy mình không thể nói, cứ như thể giọng nói đã rời bỏ tôi rồi, họng tôi khô khốc. Tôi nhìn nàng, trong đầu vẫn không ngừng niệm chú. Xin đấy, đừng nhảy có được không! Tôi muốn nói như vậy, nhưng ngôn từ đã tan biến mất từ trước khi nó được thốt ra rồi.

Nàng quay sang phía tôi.

Mắt tôi nhìn thẳng vào mắt nàng, hoặc một cái gì đó giống như là mắt nàng; vì ở khoảng cách này cùng sự nhá nhem đồng loã của bóng tối, tôi không thực sự rõ đồng tử của nàng ở đâu nữa. Nàng đứng bất động ở đó, chằm chằm nhìn tôi. Nàng tuyệt đẹp. Một vẻ đẹp rực rỡ sẽ làm điêu đứng mọi ánh mắt nhìn. Tôi không thấy một cảm xúc nào trên gương mặt nàng cả, chỉ chăm chăm nhìn vào cái thằng tôi đang đờ đẫn ở trước mặt. Tôi muốn lắc đầu với nàng, ý muốn nói với nàng là đừng làm thế, nhưng một cử động nhỏ tôi cũng không làm được. Ánh nhìn của nàng lặng lẽ, xuyên thấu. Tôi bỗng hiểu ra, nàng không thực sự nhìn tôi, mà nhìn xuyên qua tôi. Ánh mắt của nàng không phải là ánh mắt của con người trên cõi đời này, dù vẻ đẹp của nàng vô cùng trần thế. Ánh mắt của nàng như thôi miên, dụ hoặc, dù không có một tia ấm áp trìu mến nào toả ra từ đôi mắt sâu thẳm của nàng cả. Nhưng cũng không có một sự đe doạ nào trong ánh mắt lạnh lẽo ấy.

Nàng khẽ lắc đầu, vai nàng run lên một chút, rồi quay người bỏ đi.

Một điểm lân tinh từ ánh mắt nàng thoát thai, bay lơ lửng trong không trung và lẽo đẽo theo nàng. Đốm sáng nhỏ le lói ở đằng sau gày guộc như một linh hồn nhỏ, khuất dần rồi mất hẳn. Tôi nhìn theo nàng khuất bóng ở phía xa, nhưng ở chỗ nàng đứng như vẫn còn một vầng hào quang mờ mịt vô hình ẩn hiện. Một vài lân tinh rơi rớt lại, thoi thóp trong không trung, tắt dần ánh sáng. Tôi giơ tay đỡ lấy một linh hồn đang lịm dần ở gần mình như một con đom đóm nhỏ. Nó cũng dần tắt lịm trên tay tôi, tan biến.

Không còn gì bên cạnh. Tôi nhìn xuống đường, cũng chẳng còn bóng dáng xe cộ nào. Chỉ còn sự thăm thẳm của màn đêm.

Tôi trở về nhà.

Căn phòng của tôi đã được dọn dẹp sạch sẽ, làm tôi bỡ ngỡ phút chốc, bởi tôi thấy như mình đang lạc vào một căn phòng khác. Mùi không khí xung quanh cũng là một mùi lạ lẫm, tươi mới. Không còn những dư hương ấm áp từ đêm hôm qua nữa, tôi nghi hoặc một lúc rồi thở dài, ném mình vào chăn gối. Đằng nào thì vẫn là căn phòng ấy, tôi không thể miễn cưỡng được cơn buồn ngủ nữa, nó đã quá sốt ruột chờ tôi rồi.

***

Sáng hôm sau, tôi ngủ dậy, mở cửa sổ để cho không khí tràn vào căn phòng. Ánh nắng chiếu qua rèm cửa rực rỡ.

Ở giữa phòng, một điểm lân tinh nhỏ lơ lửng trong không trung, toả ra thứ ánh sáng ấm áp nhiệm màu.

Điểm lân tinh từ từ hạ xuống thấp dần, rơi rớt thành hàng ngàn lân tinh nhỏ, rồi tan biến giữa hư không.

Tôi đã trải qua một giấc ngủ dài không mộng mị.

December 20, 2016  2 Comments

« older posts