Lân tinh

Lân tinh

“Céline có một quan niệm rất đơn giản về bất hạnh: nhìn chung, ta chẳng bao giờ thực sự biết về bất hạnh của người khác, nếu người đó vẫn ngủ được, thì chẳng có gì là bất hạnh cả, chỉ cần ngủ, mọi thứ còn lại không mấy ý nghĩa” – (Nhị Linh).

Một giờ đêm, không ngủ được, tôi quyết định ra ngoài đi bộ. Lần cuối cùng tôi thực sự bị mất ngủ, tháng bảy thì phải, cũng không gần đây lắm. Còn rất ít thứ có ý nghĩa đến mức có thể khiến ta trằn trọc ở trên giường. Mọi thứ vô nghĩa bị đốt thành tro bụi ngay khi mặt trời lên. Nắng mới là thứ có khả năng tàn sát thảm khốc. Chỉ cần ngủ, mọi thứ còn lại không mấy ý nghĩa, vì khi thức dậy chúng ta đã trở thành một người khác. Giấc ngủ cuốn trôi đi hết thảy. Những dư âm thoáng chốc của ngày hôm qua.

Tôi rẽ trái ở ngã tư, đi thẳng đến một nơi tôi chưa từng đến bao giờ, ngang qua nhiều ngõ nhỏ đặc biệt tối. Tôi trở nên không còn e dè bóng tối nữa khi đã nằm trong cái bóng tối tuyệt đích của đường hầm trong ngôi chùa Thanh Thuỷ ở Kyoto. Hai bài By the wayCalifornication của Red Hot Chili Peppers được ngẫu nhiên bật liền nhau. Xác suất để hai bài tôi thích nhất được bật liên tục là vô cùng thấp, mới chỉ có một lần; thế mà đêm nay chiếc iPhone lại chiều tôi như vậy. Tôi đã từng nói là giữa tôi và chiếc điện thoại có một mối quan hệ tâm linh nào đó, trong hầu hết trường hợp nó thường biết tôi muốn nghe gì, để hoặc là nâng tôi dậy hoặc là dìm tôi hẳn xuống đáy – như thế nào thì cũng đều tốt cả vì sợ nhất là cứ trôi ở lưng chừng. Chúng ta lost nhất là bởi không ngã hẳn về bên nào mà cứ chới với ở chỗ không có điểm tựa ấy. Nếu đã rơi thì hãy rơi đến tận cùng. Chính ở dưới đáy giếng là nơi Toru tìm ra đường hầm để đi vào một thế giới khác, thế giới bên trong của Kano Creta (Chim vặn dây cót). Đêm nay, trong cái tâm trạng cuồng loạn rất cần tìm đến Rock, tôi chỉ muốn qua khu Ratchada và ném mình vào một quán bar nào đó có nhạc sống chơi đến muộn và uống bia lạnh, bết xê lết được thì càng tốt. Anthony Kiedis đang hát đến bài Parallel Universe. Không cách gì hiểu được âm nhạc của Red Hot Chili Peppers trọn vẹn. Âm nhạc của họ có mọi thứ. Đại đa số các bài hát được Anthony Kiedis viết từ khi còn trẻ, nói về ma tuý, nghiện ngập, tình dục, phân biệt chủng tộc, và đặc biệt là cái chết vì Anthony đã chứng kiến những người bạn thân của mình lần lượt ra đi. Âm nhạc của Red Hot Chili Peppers đi rất gần với xã hội hippi thời đó, một thứ âm nhạc chán chường nhưng không u uất, tuyệt vọng.

Tôi bỗng nhớ đến cái đêm lang thang trong rừng ở Seinäjoki. Tháng mười hai, tuyết phủ lạnh lẽo, chúng tôi đi party về vào đêm thứ Bảy, khật khừ đến nỗi không còn nhớ rõ lối đi. Thay vì về nhà, tôi bỗng có cái ham muốn ngồi ở bìa rừng ở phía sau lưng khu tập thể. Lũ sóc đã đi ngủ cả. Con suối đã dần đóng băng. Từng hàng bạch dương khẳng khiu oằn mình trong bão tuyết. Tôi phong phanh ngồi đó, giữa cái lạnh âm, không còn nhớ rõ mình đã tỉnh hay thức, nghĩ về tuổi trẻ tự do vô định của mình. Thời đó tôi vẫn còn nghe Coldplay. Giọng của Chris Martin da diết, “You are… you are… you are… Home, where I wanted to go. Home, where I wanted to go…”. Tôi nằm trên tuyết, hơi thở đóng băng ngay trên không khí, nhắm mắt lại. Tôi đã may mắn không thiếp đi ngay tại bìa rừng để rồi trở thành một người tuyết khô khốc vào hôm sau, nhưng tôi cũng không nhớ đã về nhà như thế nào.

Tôi quyết định đi thẳng mãi, vượt qua những ngã tư không có bóng con người. Chỗ này đã cách nhà tôi khoảng hai cây số. Tôi sẽ đi bộ dọc hết con đường này để đến một nơi rộng rãi có thể nghỉ chân, hoặc cứ thế đi mãi. Tôi nhớ đến đoạn đi bộ giữa Naoko và Toru trong Rừng Nauy, một cuộc đi bộ lặng lẽ dài khủng khiếp dọc Tokyo, Naoko không nói gì cả. Họ đã đi bộ cùng nhau suốt những ngày cuối tuần của mùa hè năm ấy, trước sinh nhật tuổi hai mươi của nàng. Những vỉa hè đặc biệt nhỏ ở Bangkok, thảng hoặc đôi khi có những dãy cầu thang bắc ngang qua đường dành cho người đi bộ choáng hết cả làm tôi phải bước xuống lòng đường. Từng đoàn ô tô và xe phân khối lớn vùn vụt lao qua như ánh chớp. Phi nhanh đến mức tạo thành một gia tốc lạnh lẽo chỉ chực hút thẳng người ta vào trong nó. Màn đêm mang đến những cạm bẫy vô hình. Rất đột ngột, từ phía đằng sau của tôi vụt lên một cô gái; có lẽ từ ngã tư bên kia rẽ sang. Nàng bước song song với tôi, không hề do dự. Tôi đang chìm đắm trong âm nhạc của Red Hot Chili Peppers, nghe Anthony hát Road Trippin’ xa vắng; “It’s time to leave this town. It’s time to steal away, let’s go get lost anywhere in the USA…”. Đoạn riff từ chiếc guitar gãy đôi trong video của bài này mang đầy tính giục giã chạy trốn. Tôi và cô gái không quen cứ thế bước đi bên cạnh nhau. Tôi thấy không thoải mái, ngại thì đúng hơn, một cô gái xa lạ đi cạnh mình giữa đêm, thế mà nàng lại thản nhiên như không. Tôi đã cố tình đi chậm lại một bước, nàng cũng đi chậm lại, tôi đi nhanh hơn, nàng cũng đi nhanh hơn. Tôi chịu thua. Thôi được, thích đi cùng cũng được, đằng nào thì tôi cũng chỉ đang đi bộ thôi. Đèn vàng hắt xuống hai chiếc bóng của chúng tôi trải dài trên phố. Nhạc đang chuyển sang Easily. Calling calling for something in the air. Calling calling I know you must be there. Nàng không hề quay sang nhìn tôi. Tôi cũng gần như không liếc nhìn nàng. Chúng tôi là hai kẻ lữ hành lững thững nhất thế giới. Màn đêm dày đặc ở xung quanh. Khi đi sau nàng một chút, tôi để ý nàng mặc chiếc áo để lộ toàn bộ lưng trần. Hoàn toàn không mặc áo ngực. Tay nàng buông thõng. Nhìn theo đường cong phập phồng trước ngực thì có thể quả quyết phía sau lớp áo cực kỳ đáng phấn phởi. Tóc nàng ngắn sau tai một chút. Đó là tất cả những gì tôi biết sau một phần mười giây liếc vội sang bên. Có lẽ ở giữa màn đêm thẳm này thì một kẻ xa lạ là tôi còn an toàn hơn một gã vô gia cư nào đó, dù sau một cuộc rượu chuếnh choáng với bạn bè lúc nãy thì tôi trông cũng không khác một gã vô gia cư cho lắm. Nhưng nàng đã chọn tôi để đi cùng, những điều vô lý vẫn thỉnh thoảng xảy ra như thế. Tôi đang phân vân sẽ bắt đầu một cuộc hội thoại ngu ngốc như thế nào thì trước mặt tôi là một ngã tư nữa. Nàng không hề giảm tốc độ lại cho tôi biết là nàng sẽ tiếp tục đi tiếp. Chần chừ một lát, tôi quyết định đi lên trên cầu thang đi bộ. Chúng tôi chia tách nhau từ lúc đó. Đêm còn rất dài, tôi thực ra đang muốn ở một mình để tiêu tán đi nỗi buồn không tên được chuốc bởi whiskey và đá lạnh. Ở trên cầu thang nhìn xuống, tôi thấy nàng hơi khẽ liếc sang một chút rồi bước đi thẳng. Chiếc bóng của nàng biến mất rất nhanh ở cuối đường. Anthony bảo với tôi, “… I’m left alone in another zone” (This Velvet Glove). Tiếng guitar bass vang lên chát chúa kéo thốc tôi vào lãnh địa vô hình của nó.

Tôi rẽ ngang qua một ngõ nhỏ tăm tối, nơi sẽ dẫn tới một quảng trường rộng lớn nối liền bến tàu điện trên cao với những dãy nhà cao tầng. Ở dưới chân một khu tập thể cũ có hai con mèo đen đang uể oải ăn đêm. Tôi thử bắt chuyện với nó, rất ngạc nhiên một trong hai con chạy ngay lại. Lũ mèo hoang ở Bangkok thường chẳng mấy khi để ý đến con người. Tôi phải hết sức vất vả nịnh nọt thì mới có thể vuốt ve được chúng một lúc, thế nhưng nàng mèo đen này thì lại thân thiện đến sửng sốt. Tôi nhận ra là mình thèm chơi với mèo. Lũ mèo hoang ở Bangkok tinh ranh ma quái hơn lũ mèo hoang béo múp và đặc biệt thân thiện với người ở Kyoto nhiều. Mèo hoang du đãng ở Bangkok luôn luôn cảnh giác, dù đã nằm yên trong lòng người. Chúng có vẻ là giống mèo hơn cả. Tôi vuốt ve nó, đôi lúc nó đứng yên, đôi lúc chỉ trực lao đi, tôi nhận ra là lũ mèo hoang đặc biệt giống mình. Về cơ bản thì lũ mèo là loài thế nào cũng được. Bạn vuốt ve chúng cũng được, mà không để ý đến chúng cũng không sao. Lũ mèo không thực sự coi điều gì là quan trọng cả, chúng cũng không coi lũ người thực sự là người. Nhưng chúng vẫn là sinh vật cực kỳ đáng yêu. Tôi nhớ đến hai con mèo của tôi đang gửi ở nhà mẹ nuôi hộ. Chúng tôi đã xa nhau quá lâu rồi. Con mèo đen vẫn quấn quít dưới chân tôi, con còn lại chỉ hờ hững đứng từ xa nhìn. Một điều nên biết, mèo đen là loài đặc biệt tinh khôn trong giới nhà mèo! Chúng luôn bình tĩnh, điềm đạm, nhìn mọi vật với con mắt dò xét kín đáo. Vẻ đẹp của mèo đen là vẻ đẹp của con báo nhỏ đang kiên nhẫn rình mồi. Tôi đứng lên, vờ bước đi để xem nó có chạy theo tôi không. Nó chạy theo, bước đi cùng tôi một đoạn. Một con mèo đen hết sức thú vị, có lẽ đã lâu nó đã không gần con người. Tôi dừng lại, nó lại quấn lấy chân tôi, và như ngứa răng, cắn vào gấu quần tôi nghịch ngợm. Có thể nhận ra rất nhiều thứ từ việc cắn của một con mèo; về cơ bản thì lũ hung hăng này không thật lòng muốn cắn con người lắm, trừ khi hết sức tức tối. Nó cứ gặm lấy gấu quần của tôi, rồi đột ngột cắn một nhát vào mắt cá chân tôi đau điếng. Ôi cha, một miếng cắn thật sự là cắn. Miếng cắn dằn mặt thể hiện sự hả hê hết mức của nàng mèo đã lâu lắm không có sự quan tâm của con người. Nàng cắn rất ngọt. Tôi khập khiễng bước đi, nó vẫn theo tôi; tôi đã yên tâm là mình lại có kẻ đồng hành thì nàng đột ngột dừng lại rồi quay ngoắt. Lũ mèo là thế, ta không thực sự biết được đến lúc nào thì chúng nó không cần ta nữa. Màu đen của nó hoà lẫn rất nhanh vào màu đen của ngõ vắng rồi khuất hẳn. Nó biến mất nhưng cái đau từ vết cắn vẫn ở đây. Từ bé đến lớn, trên người tôi vô số vết sẹo từ mèo cắn. Đôi khi, những vết xước dài trên tay gợi lại cho ta những ký ức ngọt ngào.

Quảng trường rộng lớn nằm giữa một đại lộ bốn phía là nhà cao tầng. Đây là địa điểm mà ban ngày sẽ thu hút rất nhiều học sinh đến chụp ảnh kỷ yếu và từng nhóm bạn bè cosplay chụp ảnh tấp nập. Nghệ sĩ đường phố cũng thỉnh thoảng vác đàn ra hát ở đây, thứ âm nhạc trẻ thịnh hành dành cho thanh niên. Vậy mà đêm nay chỉ có mình tôi. Đứng giữa quảng trường đón gió, từng hàng xe vẫn chạy vùn vụt ở dưới đường, tôi như vẫn thấy hàng trăm linh hồn đang nháo nhác chung quanh. Một vẻ yên tĩnh mà vẫn vang vọng lại rất nhiều tiếng động. Tôi dựa lưng vào lan can, nhìn xuống đường. Ánh đèn từ hàng trăm chiếc xe dọi lại như những chùm lân tinh lập loè trước mặt. Một không khí cực kỳ cô liêu. Tôi thấy nỗi cực cảm của mình. Red Hot Chili Peppers chơi Purple Stain. Chad Smith như đang lên đồng. Đoạn solo trống dài như một bản trường ca trong bài này vô cùng lừng lẫy, đã làm tôi ngây ngất đến thắt ngực.

Nếu đi tiếp thì sẽ hoàn toàn lạc lối. Cơn buồn ngủ cũng đã dần xâm chiếm tôi rồi. Tôi chuếnh choáng bước xuống đường để quay trở về. Ma lực từ những ánh chớp xe cộ bên đường vẫn tiếp tục quyến dụ tôi, nhưng tôi đã đi sát lề trái để ngăn chặn cơn ham muốn lao mình qua đường bất chợt. Gió lộng lẫy ở trên cao. Tôi bước lên trạm BTS để có thể nhìn ngó thành phố trong phút chốc. Ba giờ sáng. Những tiếng lao xé gió của xe cộ phía dưới làm rách toạc màn đêm. Tôi đứng ở lan can, nhìn xe vùn vụt qua. Bỗng có ham muốn nhảy xuống mãnh liệt. Độ cao khoảng hai mươi mét vẫn dụ dỗ không ngừng. Trong đầu tôi luẩn quẩn những câu thơ của Vi Nhất Tiếu…

Chính là em
vầng dương nào vẫn đỏ
trên đỉnh sầu oan nghiệt của chia phôi

“trên đỉnh sầu oan nghiệt của chia phôi…”, tôi lẩm bẩm, như những dòng thần chú mặc niệm. Ký ức vụt qua lạnh lẽo. Chính ở lúc đó, tôi nhìn thấy một cô gái, cũng đứng ở phía bên kia lan can như mình.

Tôi không rõ nàng đã ở đó tự bao giờ vì lúc tôi lên đây thì chỉ có một mình. Chỉ biết là khi tôi ngẩng lên thì đã nhìn thấy nàng ở đó rồi. Giống như tôi, nàng nhìn chăm chăm xuống đường. Nàng mặc một chiếc váy ngắn tối màu, áo sơ mi thuỷ thủ, tóc dài thả trôi, bồng bềnh sương khói. Mặt nàng lộ liễu một ham muốn nhảy xuống còn rõ ràng hơn tôi. Tôi cứ đứng đó, kinh ngạc nhìn nàng. Ở khoảng cách này, nếu thực sự nàng muốn nhảy xuống thì chắc chắn tôi cũng không thể kịp chạy đến được. Tôi bỗng thấy như mình bị đặt vào tình thế là chứng nhân cho một kẻ sắp kết liễu cuộc đời mình, mà chỉ ít phút trước chính tôi cũng có khao khát đó. Nhưng tôi lại thấy mình không thể nói, cứ như thể giọng nói đã rời bỏ tôi rồi, họng tôi khô khốc. Tôi nhìn nàng, trong đầu vẫn không ngừng niệm chú. Xin đấy, đừng nhảy có được không! Tôi muốn nói như vậy, nhưng ngôn từ đã tan biến mất từ trước khi nó được thốt ra rồi.

Nàng quay sang phía tôi.

Mắt tôi nhìn thẳng vào mắt nàng, hoặc một cái gì đó giống như là mắt nàng; vì ở khoảng cách này cùng sự nhá nhem đồng loã của bóng tối, tôi không thực sự rõ đồng tử của nàng ở đâu nữa. Nàng đứng bất động ở đó, chằm chằm nhìn tôi. Nàng tuyệt đẹp. Một vẻ đẹp rực rỡ sẽ làm điêu đứng mọi ánh mắt nhìn. Tôi không thấy một cảm xúc nào trên gương mặt nàng cả, chỉ chăm chăm nhìn vào cái thằng tôi đang đờ đẫn ở trước mặt. Tôi muốn lắc đầu với nàng, ý muốn nói với nàng là đừng làm thế, nhưng một cử động nhỏ tôi cũng không làm được. Ánh nhìn của nàng lặng lẽ, xuyên thấu. Tôi bỗng hiểu ra, nàng không thực sự nhìn tôi, mà nhìn xuyên qua tôi. Ánh mắt của nàng không phải là ánh mắt của con người trên cõi đời này, dù vẻ đẹp của nàng vô cùng trần thế. Ánh mắt của nàng như thôi miên, dụ hoặc, dù không có một tia ấm áp trìu mến nào toả ra từ đôi mắt sâu thẳm của nàng cả. Nhưng cũng không có một sự đe doạ nào trong ánh mắt lạnh lẽo ấy.

Nàng khẽ lắc đầu, vai nàng run lên một chút, rồi quay người bỏ đi.

Một điểm lân tinh từ ánh mắt nàng thoát thai, bay lơ lửng trong không trung và lẽo đẽo theo nàng. Đốm sáng nhỏ le lói ở đằng sau gày guộc như một linh hồn nhỏ, khuất dần rồi mất hẳn. Tôi nhìn theo nàng khuất bóng ở phía xa, nhưng ở chỗ nàng đứng như vẫn còn một vầng hào quang mờ mịt vô hình ẩn hiện. Một vài lân tinh rơi rớt lại, thoi thóp trong không trung, tắt dần ánh sáng. Tôi giơ tay đỡ lấy một linh hồn đang lịm dần ở gần mình như một con đom đóm nhỏ. Nó cũng dần tắt lịm trên tay tôi, tan biến.

Không còn gì bên cạnh. Tôi nhìn xuống đường, cũng chẳng còn bóng dáng xe cộ nào. Chỉ còn sự thăm thẳm của màn đêm.

Tôi trở về nhà.

Căn phòng của tôi đã được dọn dẹp sạch sẽ, làm tôi bỡ ngỡ phút chốc, bởi tôi thấy như mình đang lạc vào một căn phòng khác. Mùi không khí xung quanh cũng là một mùi lạ lẫm, tươi mới. Không còn những dư hương ấm áp từ đêm hôm qua nữa, tôi nghi hoặc một lúc rồi thở dài, ném mình vào chăn gối. Đằng nào thì vẫn là căn phòng ấy, tôi không thể miễn cưỡng được cơn buồn ngủ nữa, nó đã quá sốt ruột chờ tôi rồi.

***

Sáng hôm sau, tôi ngủ dậy, mở cửa sổ để cho không khí tràn vào căn phòng. Ánh nắng chiếu qua rèm cửa rực rỡ.

Ở giữa phòng, một điểm lân tinh nhỏ lơ lửng trong không trung, toả ra thứ ánh sáng ấm áp nhiệm màu.

Điểm lân tinh từ từ hạ xuống thấp dần, rơi rớt thành hàng ngàn lân tinh nhỏ, rồi tan biến giữa hư không.

Tôi đã trải qua một giấc ngủ dài không mộng mị.

December 20, 2016  2 Comments

Niềm vui phục vụ

Thailand's King Bhumibol Adulyadej (far right) plays the saxophone during a jam session with legendary jazz clarinetist Benny Goodman (far left) and his band in New York on July 5, 1960. The king is an accomplished musician as well as a composer. This year marks the world's longest reigning monarch's Golden Jubilee, and American jazz legends such as the Count Basie Orchestra, Herbie Hancock, and Wayne Shorter have recently come to town to perform in his honor. (AP Photo)

Thailand’s King Bhumibol Adulyadej (far right) plays the saxophone during a jam session with legendary jazz clarinetist Benny Goodman (far left) and his band in New York on July 5, 1960. The king is an accomplished musician as well as a composer. This year marks the world’s longest reigning monarch’s Golden Jubilee, and American jazz legends such as the Count Basie Orchestra, Herbie Hancock, and Wayne Shorter have recently come to town to perform in his honor. (AP Photo) – Source

Với tất cả sự tôn kính và yêu thương, tôi dành bài viết nhỏ này cho Thái Lan – đất nước mà tôi đã sống và làm việc một cách vui vẻ, nhiệt thành nhất trước tuổi 30

Trong cuốn du khảo Đà Lạt một thời hương xa của Nguyễn Vĩnh Nguyên, chương nói về Nhất Linh rất nhiều xúc động. Về sau, con trai của ông là Nguyễn Tường Thiết đã hồi tưởng về thời gian cha ông ở Đà Lạt và gọi nó là quãng thời gian đẹp nhất trong đời Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam. Khoảng thời gian mà Nhất Linh sống chạy trốn thực tại thất bại trên trường chính trị, lui về sống đời thoát tục và đắm chìm vào tình yêu cái đẹp – thú chơi lan.

Về sau, nếu cuộc đời đủ thú vị đến mức để cho tôi thư nhàn rảnh rỗi mà viết một cuốn hồi ký chẳng hạn, tôi cũng muốn nhớ đến những năm tháng 2016 sinh sống và làm việc tại Bangkok, Thái Lan như một quãng thời gian tươi đẹp trong tuổi trẻ của mình, trước tuổi 30.

Bangkok, Thái Lan.

Tôi muốn nói trung thực một điều rằng tôi biết ơn đất nước Thái Lan và con người Thái Lan. Quãng đường khởi nghiệp của tôi có lẽ sẽ không phát triển nhanh đến thế nếu tôi không có cơ hội được dấn thân vào thị trường Thái Lan và sinh sống, làm việc cùng họ.

Tôi may mắn được làm việc trong một Tổ hợp công nghệ giáo dục đầy tham vọng. Nếu chỉ hai năm trước thôi, Tổ hợp vẫn chỉ tập trung vào một thị trường duy nhất, thì hiện tại chúng tôi đã mạnh dạn cắm cờ tại thêm 3 quốc gia khác. Việc mở rộng sang Thái Lan là một trong những quyết định chiến lược đúng đắn nhất. Với bản thân tôi, điều này cho tôi cơ hội được đối diện với những thử thách lớn trên phương diện quản trị nhân sự và phục vụ khách hàng. Tôi đã có cơ hội học cách dùng nhân sự người nước ngoài, mà đối với startup vốn đề cao tính phù hợp văn hoá của nhân sự chứ không chỉ dùng người theo kiểu làm thuê sòng phẳng, thì bài toán này khó khăn hơn nhiều.

Gần hai năm phục vụ người Thái Lan, sinh sống và làm việc tại Bangkok, theo quan sát của cá nhân mình, điều tôi thấy cảm mến nhất về người Thái Lan đó là sự yêu đời và yêu nghề của họ.

Những người Thái Lan vui vẻ (nguồn ảnh: Google Images)

Tôi thấy người dân Thái Lan rất hạnh phúc và yêu đời. Để biết được một xã hội có hạnh phúc hay không, theo một cách ít hình thức nhất, hãy đơn giản là ra đường và quan sát, cảm nhận về tầng lớp nhân dân thấp nhất của xã hội.

Ở Thái Lan, kể cả những ông xe ôm, bán hoa quả dạo, bảo vệ, bán hàng dạo ngoài chợ… đều rất vui vẻ. Họ là tầng lớp vất vả của xã hội, nhưng tôi không thấy họ chán chường, mệt mỏi, bất mãn như tầng lớp tương tự tại Việt Nam. Trái lại, họ đều bình thản và nghiêm túc làm tốt nhất vai trò của mình.

Điều đặc biệt là, kể cả những người lái xe ôm hay bán dạo, họ đều luôn giữ thái độ đúng mực đối với khách hàng. Tôi thực sự cảm kích và biết ơn những người lái xe ôm đã đưa đón tôi đi tập gym hàng ngày. Trước khi lên xe, và sau khi xuống xe, bất kể có đi quãng đường xa hay ngắn đi nữa, họ đều gật gầu chào tôi một cách rất lê độ và khuôn phép, dù phần nhiều trong số họ là những người cao tuổi. Khi tôi trả tiền, họ luôn cúi đầu cảm ơn. Đến lần gặp thứ hai khi đón tôi (đã trở thành khách quen), cái cách họ đón tiếp tôi làm cho tôi cảm thấy thân thuộc và cảm mến một cách tự nhiên. Thái độ phục vụ của họ – những người xe ôm – cho tôi thấy một sự chuyên nghiệp đã được rèn luyện thành khuôn phép, chuẩn mực, mà không kiểu cách, và tôi cho rằng mọi thứ đều đến từ một cơ sở giản dị đó là tình yêu với nghề và sự hài lòng với cuộc sống.

Xe ôm tại Thái Lan đều mặc đồng phục và luôn thân thiện, niềm nở (ảnh: Google Images)

Xe ôm tại Thái Lan đều mặc đồng phục và luôn thân thiện, niềm nở (ảnh: Google Images)

Tình yêu với nghề. Nghe thì xa xỉ nhỉ. Vì một cái nghề như xe ôm thì có gì đâu mà yêu. Tôi không nghĩ là có rất nhiều ông xe ôm yêu nghề, hạnh phúc với cuộc sống tại Việt Nam. Nhưng điều này là có tại Thái Lan.

Nghĩ sâu sa hơn, thực ra tầng lớp thấp của Thái Lan duy trì được một thái độ phục vụ niềm nở đối với công việc đó là vì đa số họ đều hài lòng với cuộc sống. Xa hơn chút nữa, là họ tôn trọng bản thân mình. Thử nghĩ mà xem, thường thì tầng lớp thấp của xã hội thường hay chứa đầy bất mãn. Tại sao tôi lại phải làm cái nghề này? Đáng ra tôi phải làm cái này cái kia. Người Thái Lan không có tư duy này. Nếu họ chọn một nghề dịch vụ nào đó, họ sẽ vui vẻ hạnh phúc với nó, và ý thức được vai trò của mình để nỗ lực làm tốt nhất. Tư duy dịch vụ của người Thái Lan rất cao, trong bất kỳ mảng dịch vụ nào, từ cao cấp đến thấp cấp. Một người xe ôm sẽ ý thức được vai trò của mình, hẳn nhiên không phải thành phần thừa của xã hội, ngược lại hệ thống giao thông công cộng cần họ, nên điều này tạo được thành động lực cho họ nỗ lực trong công việc của mình.

Chúng ta sẽ cố gắng làm tốt công việc của mình nếu chúng ta biết là nó quan trọng.

Ý thức hệ về tinh thần dịch vụ của người Thái Lan có lẽ đã lên đến đỉnh cao. Đó không phải là văn hoá dịch vụ kiểu cách như người Pháp, hay cầu kỳ như người Nhật – mà cả hai tôi đều thấy rất kitsch. Văn hoá dịch vụ của người Thái Lan ở mức vừa phải, không khiến bạn ngại và tạo sức ép ngược về cung cách lên khách hàng, mà có thiên hướng tạo sự thiện cảm, gần gũi, một thứ gì đó đến từ trái tim.

Ở người Thái, có một ý thức rất rõ đến từ niềm vui được phục vụ. Họ ý thức được việc vì sao mình làm công việc này và phải phục vụ khách hàng ra sao, bởi khách hàng chính là nguyên nhân khiến mình tồn tại. Vì vậy phải phục vụ họ theo một cách công bằng nhất.

Họ làm được điều này, phải chăng vì Thái Lan là một dân tộc có niềm tin?

***
*

Dân tộc có niềm tin.

Chúng ta phải biết được rằng vai trò của Nhà Vua trong đời sống nhân dân Thái Lan lớn đến mức nào. Một tượng đài thực thụ, một trụ cột tinh thần đúng nghĩa đã nâng đỡ và làm chỗ dựa cho mọi người dân Thái Lan, từ đứa bé mới sinh cho đến các cụ già.

Nhà Vua của Nhân dân luôn ở đó, trong trái tim của mọi người dân.

Ngoài vai trò tinh thần của Nhà Vua, hầu hết người dân Thái Lan đều theo Tôn giáo một cách nghiêm túc, vì vậy đời sống tâm linh của họ luôn luôn hướng thiện.

Vì luôn có Nhà Vua và Đức Phật ở trong tim, người dân Thái Lan luôn sống với một đức tin trong sáng, lành mạnh.

Chính niềm tin đó, theo tôi, là sức mạnh nâng đỡ cho cả dân tộc.

Điều mà, đáng buồn thay, người dân Việt Nam chúng ta không còn nữa, hoặc đang mất dần đi, không cách gì cứu nổi.

***
*

Yêu đời và yêu nghề.

Có lẽ là điều mà tôi học hỏi nhiều nhất từ người Thái.

Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Công việc hầu như chẳng tránh được sức ép bao giờ. Tuy vậy, khi sống ở Bangkok nửa năm nay, chứng kiến con người lạc quan và yêu đời, tinh thần của tôi dần đạt đến một trạng thái “thiền” nhất định; mà ở đó tôi đã học cách tận hưởng cuộc sống nhẹ nhàng và bao dung hơn. Nỗi buồn vẫn thế, mất mát là không đổi, con người vẫn tiếp tục làm tổn thương nhau… có điều lạ lùng là niềm tin của tôi về những điều hạnh phúc sẽ đến lại mạnh mẽ hơn bao giờ.

Trên khía cạnh công việc, tôi cảm thấy yêu thêm cái mình đang làm. Tôi đang có niềm vui được phục vụ người Thái Lan chăng?

***
*

Góc nhìn ở trên chỉ hạn hẹp xoay quanh tầng lớp con người làm dịch vụ, vốn là một điểm mạnh đối với đất nước Thái Lan. Sẽ có người hỏi tôi vậy những điểm yếu của đất nước Thái Lan là gì và họ có không?

Tất nhiên là có. Tuy nhiên quan điểm sống của tôi gần đây đó là hãy nhìn vào những điểm tích cực, thay vì tiêu cực. Chúng ta là một dân tộc còn phải đi học hỏi cái tốt từ người khác rất nhiều, vì chúng ta chẳng bằng ai cả trên thế giới.

Vì vậy cho phép tôi chỉ nói đến những điều tốt đẹp .

October 14, 2016  2 Comments

Cõi tôi

“tôi ngồi trong cõi tôi, riêng
bên trong ghế lạnh, ngoài hiên bóng, rời
phòng tôi trần thiết gương người
tường sơn kỷ niệm, vách bồi dáng xưa
tóc người chảy suốt cơn mưa
ngực thơm hoa bưởi, môi đưa bão, về…”

***
*

Thật kỳ lạ, khoảng thời gian này tôi thèm muốn được viết. Một cách vô định, tôi không biết đích xác mình muốn viết điều gì, chỉ là thèm muốn được trút hết ra những dòng chảy suy nghĩ đang ứa tràn. Có lẽ tôi đang đợi cái khoảnh khắc trời định tương tự đã biến Murakami trở thành nhà văn để phát tiết những cảm xúc, suy nghĩ của mình chăng? Không biết nữa, nhưng khối lượng câu chữ tôi viết ra trong vài tháng gần đây có lẽ nhiều hơn cả vài năm gộp lại. Chừng đó là đã đủ chưa? Probably not.

Trong Rừng Nauy, Murakami đã viết về Gatsby vĩ đại với một ấn tượng đặc biệt. “Không có một trang buồn tẻ nào trong cuốn sách ấy”.

Tuổi mườì tám, cuốn sách yêu thích nhất của tôi là cuốn Nhân mã của John Updike, nhưng sau khi đã đọc nó một số lần, nó bắt đầu mất dần ánh hào quang ban đầu và phải nhường ngôi trên ấy cho cuốn Gatsby vĩ đại. Gatsby ở ngôi ấy một thời dài sau đó. Tôi thường rút nó ra khỏi giá sách mỗi lúc hứng chí và đọc một đoạn bất kì. Chưa bao giờ nó làm tôi thất vọng. Không có một trang buồn tẻ nào trong cuốn sách ấy.

Thời gian này, tổng kết lại, tôi nhận ra bản thân mình cũng có những cuốn sách muốn để vào ngăn riêng như vậy. Những cuốn sách mà mỗi khi đọc lại, không có một trang nào chúng làm tôi mệt mỏi. Ôi những cuốn sách, đôi khi chúng vang vọng một cách tự nhiên, nhưng lại đánh vào tâm thức ta như những hồi chuông cảnh tỉnh, cứu vớt và giác ngộ cho ta trên chặng đường tìm về với mình.

Tôi để chúng vào ngăn riêng. Hay một cách trang trọng hơn, đặt chúng vào ngôi đền tâm thức của mình. Để mỗi khi cơ hồ mệt mỏi, lại lần giở vài trang sách quen, như một nghi lễ hoài niệm.

Nghi lễ.

Các nhân vật của Murakami có một điểm chung đó là họ luôn có một “nghi lễ” cho riêng mình. Nghi lễ của Tengo là viết. Nghi lễ của Shimamoto là lau đĩa than nhạc Jazz. Trong 1Q84, nghi lễ của Aoname là stretching – một liệu pháp giải phóng bản thân.

Nghi lễ của tôi, là nghiêm cẩn đứng trước ngôi đền của mình, lặng lẽ đọc đi đọc lại những dòng tư tưởng mà tôi đồng cảm tuyệt đối, bằng một tình cảm nâng niu, trân trọng. Đó phải chăng là con đường tìm đến sự thanh thản của tôi chăng?

Ngôi đền đó, chính là cõi tôi.

Trong ngôi đền của tôi, hiện tại có 2 tác giả và 3 cuốn sách.

Phía nam biên giới phía tây Mặt trời – Haruki Murakami

Tôi coi quyển tiểu thuyết này là một thứ “kinh thánh” dành riêng cho đàn ông. Ở độ tuổi 17 đọc Phía nam biên giới sẽ có một cảm nhận khác, ở độ tuổi 27, rồi 37 đọc Phía nam biên giới sẽ lại có một cảm nhận khác, và cái cảm nhận đó sẽ trùng khớp với cuộc đời của một người đàn ông như Hajime. Tôi đã chiêm nghiệm được điều này.

Phía nam Biên giới, phía tây Mặt trơi - Murakami

Phía nam Biên giới, phía tây Mặt trơi – Murakami

Tôi nói gì khi tôi nói về chạy bộ – Haruki Murakami 

Riêng quyển này, tôi đã viết về nó nhiều lần, ở đây đây đây đâyđây. Chưa có quyển nào tác động đến hệ tư tưởng của tôi nhiều như quyển này, và tôi cũng đang nỗ lực sống một cuộc đời hàng ngày giống như Murakami vẫn sống – cuộc đời của tập luyện bền bỉ và cân bằng.

Tôi nói gì khi tôi nói về chạy bộ - Murakami

Tôi nói gì khi tôi nói về chạy bộ – Murakami

Đà Lạt một thời hương xa – Nguyễn Vĩnh Nguyên

Tôi đã viết về quyển sách này ở đây. Đây sẽ là quyển sách đưa tôi đến con đường nghiên cứu nghiêm túc về văn chương nghệ thuật Việt Nam giai đoạn cải cách, để từ đó tìm về nguồn cội của mình.

Đà Lạt, một thời hương xa - Nguyễn Vĩnh Nguyên

Đà Lạt, một thời hương xa – Nguyễn Vĩnh Nguyên

Ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, hay khi già dần đi, lại có một cuốn sách, hay một hệ tư tưởng, tác động đến bản thân ta, giúp ta đạt đến trạng thái giác ngộ cao độ. Các cuốn sách này tuy khác nhau về hình thái, tác giả, thời đại, nội dung… thì có điểm chung đó là bằng cách này hay cách khác đều dẫn lối để tôi trở về gần hơn với bản chất của mình.

Chẳng phải hành trình trở về bản thân, là hành trình quan trọng nhất của con người đó sao?

111016

(*): đề tựa là bài Chân dung, thơ Du Tử Lê

October 11, 2016  Leave a comment

The third place, mine and Hanoian’s

Cộng Cà Phê

Cộng Cà Phê

Nơi chốn thứ 3, của tôi và của người Hà Nội.

Lần trước tôi có nhắc đến cuộc chiến cà phê (ít nhất là trên truyền thông) tại Việt Nam giữa Starbucks vs. Trung Nguyên, với câu hỏi đặt ra là liệu định vị “the third place” của Starbucks có giữ được khi đặt chân vào Việt Nam hay không?

Sau một thời gian khi Starbucks mở vài cửa hàng tại Hà Nội, và sau khi tự thuyết phục mình thử ngồi Starbucks xem sao,  thì thấy Starbucks fail toàn tập tại Hà Nội, ít nhất là với tôi, và ít nhất là tính tới thời điểm hiện tại.

Tôi đã ngồi Starbucks tại đảo Jeju (Hàn Quốc), giữa thủ đô Seoul hay tại sân bay quốc tế Incheon; tôi cũng đã ngồi Starbucks của Bangkok Thái Lan. Tại 2 đất nước ấy, Starbucks tuy hiện đại, nổi bật nhưng vẫn gần gũi với tất cả mọi người, nôm na là ai cũng có thể với tới. Quán không phải là đông lắm, decor cũng tàm tạm, thực đơn thường thường, khách thì đủ mọi thành phần, ít thấy sự phân biệt về đối tượng thưởng thức. Người ta đến quán, có thể là vì ghé vội ăn trưa, hoặc tranh thủ ít phút suy nghĩ một mình trước khi vào cuộc họp.

Ba quán Starbucks ở Hà Nội, half-ass như nhau.

Cảm giác câu chuyện của Starbucks giống câu chuyện của KFC khi mới đến Việt Nam. Mình du học sinh về, độ 2008 2009 gì đấy, hỏi thằng bạn ở Hà Nội thì có quán ăn nào dẫn gái cần tán đến được. Nó trả lời KFC. Mình freak out luôn. KFC, yeah? Dẫn gái vào quán fast food á? Vì trong đầu mình lúc đấy KFC ngang quán phở ở nước ngoài thôi mà. Mình ko tin nên đi thử, hóa ra đúng thật, cảm giác vào KFC lúc đấy như vào Megastar sau này, vì toàn dân bảnh bao ngồi, tầng lớp thấp hơn chưa thấy.

Bây giờ thì KFC cũng phổ biến ngang quán phở thật.

Còn Starbucks, con đường để họ trở thành the third place tại Việt Nam, có lẽ còn xa lắm.

Nhất là khi, ở Hà Nội đã có một the third place của riêng mình.

10960307_10152771396539005_573608868140785765_o

Cộng, the third place

Cộng đã mở đâu đó hơn chục quán tại Hà Nội và một quán tại Đà Nẵng.

Quán Cộng đầu tiên tôi ngồi là tại Điện Biên Phủ, độ vài năm trước, khi Cộng vẫn là một cái gì đó nhỏ bé khiêm nhường đối với dân cà phê Hà Nội. Lúc đó vào Cộng, cảm giác không gian chật chội, cũ kỹ, tối tăm, có gì đó khó chịu. Chẳng thể ngờ là vài năm sau, vẫn cái không khí chật chội cũ kỹ đấy lại quyến rũ mình, và trở thành quen thuộc hàng ngày.

Đối với một quán cà phê, cái không khí của quán là quan trọng nhất. Giá trị trừu tượng này khó có thể giải thích bằng lời. Cái không khí tỏa ra từ dấu tích thời gian của ngôi nhà, bảng hiệu, nội thất, mùi con người, âm thanh pha chế, từ những câu chuyện theo chân thực khách, đến nhạc nền, phố vọng. Cái không khí tỏa ra từ lý do để người ta ghé qua, cảm thấy bị níu chân, nán lại và trở về.

Từ đam mê và ký ức xa xôi nào đó biết chừng.

Tôi đi uống cà phê phần nhiều vì ngồi với bạn bè. Trong cái không gian gần gũi của nhạc hay, chuyện phiếm và những gương mặt quen thuộc ấy, chất lượng cà phê không còn là điều cốt yếu nữa.

Khi muốn ngồi yên tĩnh một mình, tôi sẽ lánh vào một quán quen – nơi gắn với những kỉ niệm. Ở không gian đó, thiết kế nội thất và đồ uống có khi chẳng quan trọng bằng sự chào đón bằng ánh mắt của cô bé phục vụ dù đã gặp nhau suốt nhưng chẳng bao giờ hỏi tên, cũng chẳng bao giờ cần mở miệng order vì đã hiểu mình quá rõ.

Người ta uống cà phê nhiều khi chẳng phải vì cà phê mà là thích cái cảm giác ngồi bên một ly cà phê và cứ thế lười biếng với suy nghĩ của mình.

Bằng cách nào đó, Cộng tạo ra một không khí thoải mái chừng mực với tất cả mọi người. Cái cũ kĩ của Cộng không phải cái cũ kĩ của không khí bao cấp, mậu dịch mà một vài quán cố gắng tái hiện lại nhằm thu hút những người hoài cổ. Thật lòng mà nói tôi không ưa cái không khí mậu dịch đó lắm, vì có gì đó cổ hủ, ngược đời. Dòng chảy tự nhiên đã cuốn trôi những thứ cổ hủ đó đi rồi, đừng mang nó quay trở lại (theo cách nửa vời) nữa.

Cộng cũ kĩ một cách tự nhiên, không khuôn sáo. Tuy cũ kĩ nhưng vẫn phảng phất một phần phố thị, không bị già quá, cứng quá. Thiết kế và chủ ý sắp đặt của Cộng dường như đến từ cái gout cá nhân nhiều màu sắc hoài cổ của chủ quán, chỉ hơi lạ lẫm một chút chứ chưa đến mức cực đoan, bị biệt.

Cộng Cà Phê

Cộng Cà Phê

Lần đầu đến Cộng, va chạm với cái không khí là lạ từ theme màu xanh bộ đội ấy, người ta dễ có cảm giác lấn cấn gì đó trong lòng. Có cái gì gợi nhớ từ những trang sách sử, thời chiến, ẩn dụ chính trị, phảng phất tư tưởng gì đó ở nơi đây, rất khó giải thích. Cả không gian quán thấm đẫm một không khí cách mạng! Cái cảm giác đó làm người ta ngần ngại. Thậm chí, còn làm một số người ngứa mắt. Tôi nhớ trên truyền thông, Cộng nổi nhất là khi bị trang lá cải Petrotimes đánh. Cũng gọi là nổi đình nổi đám một thời gian ngắn, đủ để tạo awareness (tốt hay xấu?) về thương hiệu. Thời đó Cộng chưa có nhiều hơn dăm bảy quán, chưa phải là hiện tượng cà phê như bây giờ.

Sau đó thì không hiểu tại sao Cộng bỗng mở rộng mạnh mẽ ra nhiều địa điểm, đi đâu cũng thấy.

Cộng Cà Phê

Cộng Cà Phê

Tôi đã ngồi 10/14 quán Cộng tại Hà Nội. Vào mỗi buổi tối, Cộng đông nghẹt khách. Đông kinh hãi, khách ngồi full ghế trong nhà, chật ních vỉa hè ngoài phố. Cộng Quán Sứ là một ví dụ tiêu biểu. Cộng Nhà Thờ thì thôi khỏi nói.

Khi tôi nhìn thấy khách đến Cộng, từ những cựu chiến binh xanh màu áo lính, một mình bên điếu thuốc, chậm rãi nhả khói, thưởng thức từng giọt cà phê, ký ức chắc ngập tràn một thời bom đạn; đến những gia đình vợ chồng con cái đủ cả, rạng rỡ bên những câu chuyện buổi sáng; rồi các cặp bạn bè, tình nhân, thanh niên nam nữ tụ tập chuyện phiếm vỉa hè; Khi tôi nhìn thấy khách của Cộng, từ dân nghệ sĩ lập dị, đến dân celeb và người dân ngồi lẫn với nhau, oang oang hay khe khẽ những câu chuyện từ sáng tác, làm ăn buôn bán đến phang phập hàng ngày; người cưỡi xe máy hay đi Audi cũng không ngại đến; Khi tôi nhìn thấy chính tôi, nhiều ngày mệt nhoài rời công sở về nhà, váng vất thèm cà phê đến phát điên, theo quán tính tự vòng về Triệu Việt Vương (địa điểm Cộng gần công ty nhất) … tôi biết Cộng đã trở thành một phần của văn hóa cà phê Hà Nội. Đường hoàng và nghiễm nhiên bước lên vị trí the third place, cái mà dân thưởng thức nói chung của thủ đô đang thiếu.

Với sự hiện diện ở khắp nơi quanh thành phố như hiện nay, khi lang thang đâu đó trong cái lành lạnh của Hà Nội mùa đông, thèm suy nghĩ một mình, Cộng là lựa chọn đầu tiên và duy nhất. Khi mời bạn bè cũng vậy, mỗi người một nhu cầu, người thích sang chảnh, người thích bình dân, người lại ưa cá tính, thôi thì ra Cộng vậy, vì cái không khí cởi mở, gợi gợi của Cộng rất dễ chấp nhận và hòa mình vào đó. Khách vào Cộng tuy rất khác nhau, nhưng lại rất ít sự phân biệt. Mỗi người một góc, lost in thoughts, or in talks, ai cũng như ai.

Cộng Cà Phê

Cộng Cà Phê

Chất lượng cà phê?

Tôi uống cà phê vốn khó tính. Trước nay tôi chỉ cảm thấy hợp nhất với Năng. Vị giác của tôi có lẽ cũng không đến nỗi tệ, ấy thế mà tôi lại phải lòng thứ cà phê tại Cộng, phải lòng một cách bạo liệt. Cà phê Cộng đậm đặc mà không đắng gắt, không dậy mùi quá mức mà chỉ chừng mực, đủ thơm, pha đủ lượng sữa tối thiểu, uống trong cốc tráng men, nóng hổi, nuốt từng giọt, cảm nhận cái vị đậm đặc ấy chảy trong huyết quản, mà tinh thần sảng khoái. Hết một cốc đầu, nhìn sang bàn bên cạnh cốc nâu nóng tương tự đang phả khói, cảm giác ấm áp thèm thuồng bập đến, không cách gì ngăn nổi order một cốc thứ hai.

Cộng Cà Phê

Cộng Cà Phê

Với tôi, chất lượng cà phê Cộng là tuyệt hảo trong tầm giá.

Nếu bạn muốn tìm một thứ cà phê sang chảnh hơn mà vẫn có chiều sâu về chất lượng, thì có thể tìm thấy ở Runam Nhà Thờ. Tuy nhiên cái giá là không rẻ.

Trên phía cạnh marketing, khó có thể tìm thấy chuỗi cà phê nào sáng tạo mà vẫn consistent đến đỉnh điểm về cá tính thương hiệu như Cộng. Phải biết rằng Cộng hoạt động trên mô hình franchaise, hẳn phải có quy chuẩn nhất định khi nhượng quyền, nhưng với từng ấy quán, từng ấy khác biệt về địa điểm, môi trường và cấu trúc không gian, cả về cái tôi của người chủ quán – cái không khí “rất Cộng” ở mỗi quán gần như không đổi. The third place là đấy chứ là đâu.

Hồi xưa tôi chỉ tìm thấy cái cảm giác the third place ở Năng Hàng Bạc. Sau này khi quán ở Hàng Bạc dẹp đi, rất lâu sau đó tôi mới tìm lại được, tuy không còn nguyên vẹn, cảm giác tương tự ở Năng Triệu Việt Vương, vì những quán Năng khác dựng lên dễ dãi quá chừng.

Còn với Cộng, không khí nhất quán và cảm giác the third place hiện diện tại từng địa điểm. Bước vào đâu cũng một không khí cũ kĩ thân thuộc như nhau.

Đối với marketing, Cộng làm tốt từ trong nội tại của sản phẩm. Với những thương hiệu, vô tình hay chủ ý, làm tốt marketing từ bên trong, phát triển là điều không cần bàn cãi, và chẳng cần tìm hiểu lý do.

Marketing, đơn giản vậy thôi.

PS. Nếu ai hỏi quán Cộng tôi thích nhất, thì đó là ở Nguyễn Hữu Huân. Ngoài việc nằm ở con phố thủ phủ của cà phê Hà Nội, nơi có không khí cà phê nhất, Cộng Nguyễn Hữu Huân mang lại cảm giác ấm áp gần gũi vô cùng trong những ngày Đông lạnh.

Tất cả ảnh đều có nguồn từ Fan page của Cộng Cà Phê.

1534794_10152777672074005_443811094311990060_o

1262465_10151678558419005_9921759_o

10960110_10152797890609005_6866907780861540053_o

March 7, 2015  3 Comments

« older posts newer posts »