Forever and one

nguồn ảnh: Homelessness ZDA

“Em đến cõi tình thiên, ta về nơi nghiệt hải…”

Trong đám đông cuồng loạn đó, tôi bỗng chú ý đến nàng, người duy nhất không gào thét theo tiếng âm nhạc kim loại đang không ngừng được ban nhạc chơi trên sâu khấu đỏ rực bởi lửa. Nàng đứng bất động, lẫn vào đám đông nhưng vẫn hoàn toàn cách biệt với xung quanh, dựa lưng vào tường, lặng lẽ khóc. Vẻ bình thản của nàng không che dấu nổi những chất chứa dồn nén ở bên trong. Không khí xung quanh nàng thấm đẫm một nỗi thống khổ, thảm thiết. Một cô gái đứng khóc lặng lẽ trong đám đông đang quay cuồng theo tiếng nhạc kích động dường như là điều lạ lùng nhất tôi từng thấy. Chẳng ai chú ý đến nàng cả, trừ tôi. Dù tôi cũng đang hoà lẫn vào đám đông cuồng loạn đó, không ngừng lắc lư theo điệu nhạc quay cuồng. Tôi không thực sự nhìn rõ nàng, trên thực tế tôi đã gần như rơi vào một trạng thái lơ lửng mộng mị của Gin và khói thuốc chập chờn; trong cái không gian chát chúa đó, thật khó để thực sự nhìn rõ điều gì. Tôi thả mình trôi đi theo đám đông không ngừng xô lệch xung quanh, mặc kệ cho những dẫm, đạp, lôi, kéo đẩy mình đi hết sang trái rồi sang phải. Tôi chỉ làm hết sức để kháng cự lại việc mình ngã gục xuống và bị đè bẹp, ngoài ra không thực sự quan tâm đến điều gì. Năng lực suy nghĩ của tôi đã dần tê liệt rồi. Những vết thương ở toàn thân dường như đang dần loang máu.

Đó là khoảnh khắc khi ban nhạc chơi bản Stairway to heaven của Led Zeppelin. Đêm nay là một đêm nhạc Rock của quán quen trong thành phố. Khán phòng kín đặc người. Những đêm nhạc Rock có mùi tuyệt vọng rất riêng, không khó để nhận ra nó đã hoà lẫn vào từng xác thịt đang quay cuồng buồn thảm. Tôi không hề nhớ tại sao mình lại ở đây. Cả những vết đau trên thân thể cũng không rõ đến từ đâu nữa. Tôi nhận ra mình đã rơi tõm vào đám đông đó từ lúc nào, xung quanh không một bóng người quen. Kể cả tình cờ có người quen đi nữa thì trong cái đám đông đen kịt hoà lẫn những người đó thật khó để phân biệt ra ai với ai. Tất cả là những bóng đen kịt không rõ hình thù. Trong cảnh tranh tối tranh sáng đó, chỉ có nàng là thực sự hiện rõ hình người, với hào quang vô hình mềm mại toả ra xung quanh ngăn cách nàng với bóng tối thù địch.

Ban nhạc kết thúc bản nhạc trong tiếng vỗ tay phấn khích của đám đông. Đèn vàng sân khấu lạnh lẽo chiếu xuống, mang lại chút sinh khí yếu đuối cho không gian đặc quánh xung quanh. Gã MC giới thiệu một màn trình diễn khác và mời ca sĩ lên sân khấu. Rất ngạc nhiên, chính là nàng. Ánh đèn rọi xuống sáng rực, phủ một không khí huy hoàng giả dối lên toàn bộ tấm thân của nàng. Nàng từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt vô hồn nhưng rực rỡ thuỷ tinh ấy nhìn thằng vào đường dẫn ánh sáng ở trước mặt, từ từ bước lên sân khấu. Ở nàng toả ra một nguồn năng lượng u uất thần bí. Không còn dáng vẻ uể oải thất thần nữa từ khi ánh sáng chiếu xuống, tôi ngạc nhiên tự hỏi nỗi thổn thức của nàng đã biến đi đâu mất. Nàng lặng lẽ cười trước khi bước đi, mang trong đó toàn bộ sự tuyệt vọng thảm khốc kín đáo. Đám đông hò hét mở đường, vỗ tay không dứt. Họ gọi to tên nàng. Hoá ra nàng dường như là một ca sĩ có tiếng của quán này. Đèn tắt dần. Nhạc đã nổi lên. Vần vũ như thánh đường vang lên lời kinh nguyện.

Nàng cầm lấy chiếc micro như ôm ấp một sinh linh nhỏ bé, chầm chậm hát. Chậm rãi. Điềm đạm. Những nỗi đau vô ngôn cũng buồn bã cất cánh.

What can I do?
Will I be getting through?
Now that I must try
To leave it all behind

Đó là bản Forever and one của Helloween. Giọng của nàng ấm áp, bi tráng, ngập tràn thống khổ, như tiếng từ cõi khác vọng về. Một âm thanh khắc khoải có tác dụng xoa dịu nỗi đau, nhưng đồng thời cũng đánh động nó. Đám đông dường như trải qua một cơn xúc động mạnh mẽ. Và cả tôi nữa. Một sự xúc động đánh thẳng vào trái tim mình, mang về những cảm xúc xa vắng đã cất giấu vĩnh viễn trong ngăn kéo tâm hồn từ nghìn năm nay, phong ấn lại bằng biết bao đổ vỡ và mất mát, đột ngột trở lại như những đợt sóng ngầm nằm dưới thuỷ triều. Ký ức lung linh kéo dạt con người vào những hoài niệm đẹp đến thảm khốc. Nỗi đau đội mồ sống dậy, chỉ trực nuốt chửng ta vào những vũng lầy thời gian xưa cũ không sao thoát nổi. Hình như con người hầu hết đều bị đóng đinh vào một dấu vết thời gian nào đó, một khoảnh khắc khắc nghiệt nào đó, nơi tàn nhẫn định đoạt toàn bộ phần linh hồn con người ta phải bị trói giữ ở đấy, vĩnh viễn không thoát ra nổi. Có những người sống mà như chết rồi. Có những người cả đời chỉ đi tìm lại một thứ đã mất. Con người về cơ bản là tuyệt vọng.

Nàng phủ kín người bằng một màu đen, áo dài và quần ôm sát, tóc đen dài xoã theo cơ thể, một phục trang giản dị trên sân khấu. Khi hát, nàng chỉ nhìn vào một điểm mơ hồ nào đó ở phía trước, hoàn toàn không để ý gì đến xung quanh. Thế giới vô hình đối với nàng. Nàng không còn khóc nữa, nhưng nỗi niềm và sự thổn thức cứ thế chảy tràn ra theo câu từ vô vọng. Nàng còn ý thức không? Tôi không hề biết.

Forever and one
I will miss you
However, I kiss you
Yet again
Way down in Neverland

Ban nhạc đã chơi như lên đồng, như thể có cả một dàn giao hưởng đang nhịp xướng, âm nhạc uy nghi vang rền cuồn cuộn chảy vào cả những góc khuất nhất của quán, làm bong tróc đi cả những mảng tường cũ mòn. Toàn thể sinh vật sống bao gồm cả con người trong không gian mà âm nhạc phủ tới đều thổn thức nghe, quằn quại trong sự cuồng loạn của mình. Tôi cũng dần hoà lẫn vào trong đám đông phấn khích ấy, mặc cho những ảo ảnh lấp loáng không thật ở trước mắt. Tôi không thực sự còn nhìn rõ được điều gì. Trong không khí nửa tỉnh nửa mê ấy, có lẽ tôi đã đến một thế giới khác khi cảm giác chân mình bồng bềnh không còn chạm đất. Tôi bắt đầu thấy các bóng đen dần biến mất, chỉ còn lại nàng rực rỡ ở trên cao.

Tiếng ngân dài của nàng đi dần vào xa vắng, cuốn sâu vào lịch sử, mang theo niềm tiếc nuối đau đớn. Nhạc tắt dần rồi im bặt. Đám đông vỡ oà, đã bao lâu rồi họ mới được nghe thứ âm nhạc hạnh phúc đến như thế? Tiếng vỗ tay như nổ tung nền trời. Nàng đứng đó, huy hoàng trên sân khấu, nhưng ngăn cách bởi sự cô độc tuyệt đối xung quanh.

Hai tay nàng nắm chặt chiếc micro, bất động nhìn vào đám đông hò hét ở phía dưới. Từ từ hướng ánh mắt của mình lên trần nhà, nàng khẽ mỉm cười lặng lẽ. Đó là nụ cười của người nghệ sĩ hoàn thành màn trình diễn của mình; nhưng đâu đó trong sự u uất của nàng, nụ cười đó có ý nghĩa nhiều hơn thế, nó báo hiệu cho một sự hoàn thành tâm nguyện, một sự kết thúc, một sự khải hoàn để sẵn sàng tan biến đi. Vẻ mặt của nàng cũng dần dần thay đổi, sáng bừng lên, rạng rỡ một niềm thanh thản.

Nàng không thôi nhìn lên trần nhà, chiếu theo hướng tia nhìn của nàng, tôi kinh ngạc nhận ra trần nhà bỗng trở nên trong suốt, nhìn xuyên thấu đến bầu trời đêm thăm thẳm. Bầu trời tràn ngập những vì tinh tú quần tụ lại thành những chòm sao nhỏ rực rỡ. Mây dường như đã biến đi đâu mất, để lộ ra cả thiên hà đã tụ hội ở ngoài kia, không ngừng phát quang ánh sáng huyền ảo. Ở thành phố khó có thể ngắm nhìn bầu trời đêm đầy sao rõ ràng đến như thế, một vẻ đẹp siêu thực đến huyễn hoặc khiến tôi hồ nghi chính mắt mình. Đằng nào thì ở cái trạng thái lơ lửng đó, tôi cũng không cách nào nhìn rõ được bất cứ điều gì. Nhưng ý thức ở bên trong nói cho tôi biết bầu trời rực sáng thiên cung kia là thật, dù nó đẹp đến phi lý, đẹp đến tàn nhẫn.

Nàng vẫn mải miết ngắm nhìn bầu trời ở trên kia, nụ cười không tắt. Ánh mắt nàng như thể đã bị thôi miên bởi ánh sáng tà dị của sao trời.

Nhưng vẫn còn có thể huyễn hoặc hơn được nữa; những chòm sao đêm ấy bỗng vần vũ quanh một vì sao gày guộc le lói và dần dần quy tụ lại, từng chút một, thành một hình người. Thành một thứ gì đó giống như hình người thì đúng hơn, vì thứ đó hoàn toàn không có mắt, mũi, chân tay thực sự mà chỉ là những hình dáng mô phỏng bởi tinh tú xung quanh; nhưng vẫn không khó để nhận ra hình dáng một người đàn ông mờ ảo. Một người đàn ông có gương mặt ảm đảm. Hai hốc mắt của gã là hai ngôi sao vằng vặc. Gã đứng đó, ở trên cao, trong hình hài rất giống một thiên sứ giáng trần. Hào quang xung quanh gã toả ra một hơi ấm nhiệm màu. Từ bầu trời đêm, gã hướng ánh nhìn xuống phía dưới nàng, chìa tay xuống ban phát vầng hào quang dịu dàng rọi thẳng vào người nàng đang đứng bất động trên sân khấu. Tôi kinh ngạc nhận ra đám đông dường như không hề biết đến những sự kì lạ này. Chỉ mình tôi là nhìn thấy. Nhưng chính nàng dường như cũng không nhìn, hoặc để ý đến tôi. Nàng chỉ lặng lẽ bất động ở đó, nhìn ngắm sao trời.

Rồi từ một khoảnh khắc nào đó, chiếc bóng của nàng; mãi một lúc tôi mới hiểu thực ra không phải bóng, mà là linh hồn nàng, đột ngột thoát ra rồi bay lên miền trời thăm thẳm đó. Phần linh hồn xanh xao ấy từ khi rời khỏi nàng, nương vào dòng hào quang ấm áp như đón nhận một sức sống mới, rực rỡ hẳn lên. Linh hồn của nàng hoà lẫn vào gã đàn ông, được bao bọc bởi những chùm sao vần vũ xung quanh, biếc lên một thứ ánh sáng trải rộng tới chân trời.

Dòng hào quang chiếu xuống sân khấu tắt dần. Thân xác còn lại của nàng vẫn không ngừng bất động. Đám đông dường như đã hoá đá xung quanh. Thời gian từ bao lâu đã ngừng lại. Âm nhạc vọng lên những dĩ vãng của chính nó. Ngay cả các vết thương trên người tôi cũng đã dịu đi. Chỉ còn một sự cô liêu cực cảm xung quanh mình.

Nàng đã bước xuống sân khấu, rẽ qua đám đông bắt đầu phấn khích trở lại, lặng lẽ thoát khỏi khán phòng. Nàng đi ngang qua tôi ở cửa vào, ánh mắt không chạm nhau nhưng tôi cảm thấy một sự xuyên thấu, như thể nàng đã ở bên trong tôi từ kiếp trước. Thân xác không còn linh hồn của nàng đi qua khỏi tôi, một luồng không khí lạnh kéo theo cuốn tôi vào một nỗi sợ hãi vô hình. Trong một chốc, tôi bỗng cảm thấy nàng không hề còn ở đấy nữa. Thứ còn lại ở nàng chỉ là một khái niệm mơ hồ nào đó thôi. Cái bóng đen đó cắm cúi bước đi, mỗi bước xa dần khỏi tôi nhưng cũng dường như tiến dần sang một thế giới khác.

Không phải chỉ mình tôi để ý đến nàng. Tôi nghe thấy giọng gã bartender ở quầy bar cảm khái:

– Tội nghiệp M. người yêu cô ấy vừa chết hôm nay…

Câu nói đó mang tính thức tỉnh. Đúng lúc ấy, tôi bỗng hiểu nỗi sợ hãi của mình. Tôi cảm thấy gương mặt của gã đàn ông ở trên cao vô cùng quen thuộc, nhưng không thể nhớ ra đã gặp ở đâu.

Rồi tôi thấy thân thể của mình trở nên trong suốt, vỡ vụn ra dần. Những vết đau trên người tấy đỏ, rực sáng. Tôi cảm nhận rất rõ từng phần thân xác đang tan rã rời xa khỏi mình, từng chút một cho đến khi không còn gì nữa.

Liếc mắt lên trên cao, tôi thấy họ đang nhìn mình. Rồi họ quay lưng đi, bay về cuối trời. Để lại ánh sáng lấp lánh từ hàng ngàn ngôi sao nhỏ.

Trước khi tan biến đi, tôi nghe thấy tiếng vọng từ giọng hát nàng triệu hồi tôi về một miền xa vắng.

March 3, 2017  Leave a comment

Kết thúc để bắt đầu

Nào, chúng ta hãy cùng đến với những gì hấp dẫn nhất của văn chương.

Điều gì làm cho văn chương thú vị? Chính là vì nó luôn luôn từ chối.

Văn chương hay ở chỗ chúng ta không cách gì hiểu cho trọn vẹn. Một tiểu thuyết thực sự lớn sẽ khước từ bất cứ cơ hội nào để được nhìn nhận đến tận cùng; các nhân vật được tạo ra, các tình tiết được mang đến, các nút thắt, các đoạn mở… tự bản thận chúng đòi hỏi một sự đánh giá đi đánh giá lại; mỗi câu chuyện đều sẵn sàng mang đến cho mỗi người đọc một cửa vào, đôi khi giống nhau hoặc khác nhau, và đưa họ đến một cửa ra, đôi khi cũng giống hoặc khác nhau, nhìn chung là tuỳ vào độc giả, có thể có cả nghìn cánh cửa như vậy, những giao cắt vô tình hữu ý trên những cánh cửa mở ra và đóng lại đó mang độc giả lại gần nhau hơn (trên khía cạnh cảm xúc, cảm nhận), những cũng đồng thời đưa chúng ta ra rất xa nhau. Đọc là việc hết sức cá nhân, mỗi chúng ta đều có một cửa vào và một cửa ra của riêng mình. Còn hơn cả thế, mỗi một lần đọc lại quyển sách nào đó, rất nhiều khi chúng ta sẽ tìm ra một đường vào khác, và đi ra ở một cánh cổng khác, có hoặc không các giao cắt với lần đọc cũ, mở ra cho chúng ta rất nhiều cảm nhận mới mẻ. Đừng ngạc nhiên khi thấy chúng ta nhìn một nhân vật ở lần này khác hẳn so với lần trước.

Đi vào một quyển sách, cũng như đi vào bản thân, là việc phải từng chút từng chút một, đi qua rất nhiều ngã rẽ, đôi khi sai đường, mà nói chung làm gì có đường nào gọi là đúng, con người vốn dĩ tràn ngập mâu thuẫn. Nhưng đồng thời con người cũng vô cùng nhất quán, bởi lẽ chúng ta chỉ đi loanh quanh trong cái bản thể của mình, trong cái vòng tròn số phận của mình. Bản chất con người nhất quán trong một sự mâu thuẫn tuyệt đối.

Cùng với văn chương, thi ca cũng nuôi dưỡng cho nó sự từ chối thấu hiểu đến tận cùng tương tự, và cả âm nhạc cũng vậy. Tất tần tật đều giống như nhau hết. Cả ba thứ này (có lẽ còn có những thứ khác) đều đến từ những tầng sâu của con người. Có trải nghiệm viết một chút, tôi biết rằng một nhà văn cũng có thể hoàn toàn không, và cũng không cần thiết, thực sự thấu hiểu tuyệt đối tác phẩm của mình. Đôi khi giọng nói ở bên trong nói rằng phải viết “điều ấy”, phải kể câu chuyện đấy, một cách phi lý trí nhất có thể, và mọi thứ cứ tự diễn ra thế thôi. Văn chương từ chối sự hiểu từ bất kỳ ai, ngay cả từ chính người viết ra chúng.

Con người với nhau cũng vậy, chúng ta cũng duy trì một sự từ chối thấu hiểu một cách tự nhiên, một cách bản năng. Con người không phải để hiểu. Chúng ta chỉ có thể nhận thức được các hiện tượng (người này thích điều này, thích điều kia, anh này thích đọc văn, thích đá bóng vv) và từ đó phỏng đoán ý nghĩa của các hiện tượng đó (thích đọc sách tức là kiểu người này, thích đá bóng tức là kiểu người kia). Chúng ta nhìn nhau qua các phỏng đoán. Bản thân các phỏng đoán cũng đầy rẫy những sự vô căn cứ, những sự mơ hồ. Cũng đừng ngạc nhiên khi phần lớn thời gian con người nhầm lẫn về nhau hết. Mọi thứ chỉ là phỏng đoán, chỉ là hiểu lầm. Con người không phải để hiểu, chúng ta chỉ có thể “cảm nhận”. Khái niệm tương đối gần điều này nhất có lẽ là thấu thị. Để hiểu một con người, thực ra đúng hơn là để “lại gần”, hãy nhìn họ. Nhưng nhìn không phải là “nhìn”. Chúng ta hiểu lầm một con người chủ yếu do chúng ta nhìn vẫn chỉ là nhìn, chứ không phải là nhìn.

Cứ bình tĩnh, mọi chuyện không phức tạp đến thế.

Khi chúng ta bỏ đi ham muốn chân chính thấu hiểu một con người, thì mọi sự trở nên tột cùng đơn giản.

Đối với Đinh Hùng, mỗi con người là một hành tinh (Anh sẽ tìm em như tìm một hành tinh/Mặc trái đất sắp tan vào mộng ảo). Tôi cũng cho rằng như vậy. Con người, cũng có thể là một vũ trụ nữa, với đầy rầy những sự mâu thuẫn, bí ẩn, không lời đáp của nó. Con người cũng có thể chẳng là cái gì.

Hình như từ đầu tôi định nói đến một việc khác, nhưng lại lan man đến chuyện con người. Tôi sẽ trở lại với nó ngay sau đây.

Quyển sách của năm của tôi trong năm 2016 chắc chắn phải là Tôi nói gì khi tôi nói về chạy bộ của Murakami. Một phần lớn ý thức hệ của tôi đã được củng cố từ tinh thần của quyển sách này. Những người follow tôi sẽ còn nhớ những gì tôi nói về nó, có lẽ là những thứ khả dĩ đáng kể nhất mà tôi từng huyên thuyên trong cả năm nay.

Còn quyển sách của năm 2017, dù mới bắt đầu năm thôi, tính tới hiện tại phải là Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng thế giới. Đây cũng là quyển sách từ chối sự thấu hiểu đến tận cùng.

Tôi đọc quyển sách này vì một lý do rất riêng tư, và cũng rất tình cờ. Tôi đã có ý tưởng viết Bóng từ trước đây, cho đến khi tôi biết được rằng Xứ sở kỳ diệu vô tình là một tiểu thuyết mang nhiều khái niệm và ẩn dụ thực sự hay về chiếc bóng (the shadow). Tôi quyết định sẽ đọc nó để tìm cảm hứng, và khác với các tiểu thuyết nặng ký khác của Murakami mà tôi thường đọc hàng tháng trời, tôi đọc quyển này trong vẻn vẹn vài ngày. Đọc ngấu nghiến và bị hút vào trong nó theo đúng nghĩa đen.

Đây là một câu chuyện tuyến tính về hai tuyến nhân vật (thực ra chỉ là một người, theo cách nhìn của tôi); một người đi về nơi kết thúc, người kia đi về nơi bắt đầu. Nơi kết thúc có tên gọi Xứ sở kỳ diệu, nơi bắt đầu là Tận cùng thế giới. Đây là một điểm đặc sắc và tinh tế, nghịch lý nhưng cũng đầy ẩn ý bậc thầy, của tác giả. Kết thúc của Xứ sở kỳ diệu (nhưng) vô tình, với những con người có tâm hồn, có mục đích (thậm chí dã tâm, tham vọng) là Nơi tận cùng thế giới, một thành phố bất khả xâm phạm có tường thành vây quanh, với những con người chấp nhận bỏ đi tâm hồn của mình, giết chết cái bóng của mình, để sống, hay tồn tại theo một chức năng duy nhất, một vai trò duy nhất đã được định sẵn. Nói tới đây, hãy nhắc đến một ẩn dụ về chiếc bóng: “Muốn nói gì thì nói, bóng là cái ở gần người ta nhất”, chiếc bóng chính là bản thân chúng ta, ở một thể hiện khác. Nơi tận cùng thế giới là nơi của những con người mất bóng. Sự kết thúc của Xứ sở kỳ diệu vô tình mở ra sự bắt đầu của Nơi tận cùng thế giới.

“Cái chết là có thực, nó không phải là đối nghịch của cuộc sống, mà là một phần của cuộc sống.” – Rừng Nauy.

Hãy cho rằng sự tuyến tính của câu chuyện này có liên quan đến triết lý nổi tiếng nhất về cái chết của Rừng Nauy, mặc dù Xứ sở kỳ diệu vô tình là tiểu thuyết thứ tư Murakami viết, sau Cuộc săn cừu hoang và trước Rừng Nauy. Tôi cho rằng Murakami đã vô tình phát hiện ra một cách nhìn về cái chết trong khi viết Xứ sở kỳ diệu vô tình, và sau khi hoàn tất nó đã cắt riêng phần này đi để tiếp tục triển khai thành tiểu thuyết thứ năm của mình. Toàn bộ Rừng Nauy có vẻ chỉ là một sự mở rộng theo một hình thái biểu hiện khác của Xứ sở kỳ diệu vô tình.

Cả hai xứ sở đều có Tình yêu, và đều thuần phác. Tình yêu giữa nhân vật ở tuyến một với cô gái thủ thư là thứ tình yêu mang đến sự giải thoát để tìm về cõi chết, Tình yêu giữa nhân vật ở tuyến hai với cô gái, cũng là một dạng khác của thủ thư thư viện; hai cô gái này về bản chất chỉ là một người ở hai thể hiện khác nhau; là Tình yêu đã níu kéo lại gã này trước ý định chạy trốn khỏi Thành phố, đồng nghĩa với việc quay trở lại hố sâu địa ngục của Xứ sở kỳ diệu mà chính gã vừa từ đó thoát thai. Hai thế giới này có chung cổng vào là chiếc đầu lâu của con thú một sừng. Ở Tình yêu thứ nhất, gã đàn ông trao cho cô gái chiếc đầu lâu rồi chết đi, thực chất là trao cho số phận của gã. Ở Tình yêu thứ hai, gã đàn ông thông qua chiếc đầu lâu chở “giấc mơ xưa” để tìm lại linh hồn cho cô gái. Cái gì kết thúc ở thế giới này sẽ tìm lại ở thế giới kia theo một cách thể hiện khác. Cái chết nối dài cho sự sống mới. Chỉ có Tình yêu là vẫn thuần phác như vậy. Tình yêu dẫn đường cho gã đi vào chính mình. Xứ sở kỳ diệu vô tình là thế giới rộng lớn bên ngoài của nhân vật chính, còn Nơi tận cùng thế giới chỉ là thế giới ở bên trong của gã.

Theo dòng sáng tác, Xứ sở kỳ diệu vô tình là tiểu thuyết thứ tư của Murakami; tôi chưa đọc Lắng nghe gió hát (tiểu thuyết đầu tiên) và Pinball (tiểu thuyết thứ hai), nên không dám chắc lắm, nhưng rất có thể Xứ sở kỳ diệu vô tình là tiểu thuyết đầu tiên Murakami viết theo lối tuyến tính – lối viết đã trở thành kinh điển của Murakami mà sau này sẽ gặp rất nhiều ở Kafka bên bờ biển và đặc biệt là 1Q84. Ngoài tuyến tính trên khía cạnh các nhân vật khác nhau, sự tuyến tính về thế giới song song ở Xứ sở kỳ diệu vô tình cũng dường như đặt nền móng cho sự xuất hiện dày đặc các thế giới song song sau này trong các cuộc hành trình kỳ quặc của phần lớn tiểu thuyết Murakami: Nhảy nhảy nhảy, Biên niên ký chim vặn dây cót, Người tình Sputnik, 1Q84… Những thế giới song song nhưng cũng giao cắt, hoặc dần dần chập vào một.

Xứ sở kỳ diệu vô tình dường như có một ý nghĩa hết sức đặc biệt trong việc sáng tác của Murakami. Quyển tiểu thuyết này trao cho Murakami một quyền năng đặc biệt, giúp ông mở ra những cánh cửa cho mình. Những tiểu thuyết sau này của Murakami, tôi cho rằng, phần lớn đều lấy từ những mảnh nhỏ nào đó trong Xứ sở kỳ diệu vô tình mà triển khai ra, kể cả những kiệt tác đồ sộ như 1Q84 đi nữa.

Xứ sở kỳ diệu vô tình có ẩn dụ về mọi thứ. Hay nói cách khác, mọi thứ ở đây đều là ẩn dụ, và đặc biệt nhiều. Ẩn dụ từ thiên nhiên: Rừng. Núi. Sông suối. Mây. Thời tiết. Ẩn dụ về Thành phố, đường hầm, lòng đất. Ẩn dụ về các thế lực: Con người. Thiên tài. Ma quỷ. Ẩn dụ về Thiện, Ác. Ẩn dụ về giấc mơ, về tâm hồn. Ẩn dụ về thú vật: Thú một sừng, chim chóc. Ẩn dụ về sự sống, cái chết. Mọi thứ đều là ẩn dụ, đều là khái niệm. Cuốn tiểu thuyết này là một khu rừng về ẩn dụ, trùng trùng điệp điệp. Ngay cả cách ví về khu rừng, cũng là một ẩn dụ nốt.

Chính vì cả cuốn sách là một sự ẩn dụ, nên nó chân chính từ chối những nỗ lực để hiểu cho trọn vẹn. Ở đây cần một sự thấu thị. Chính vì nó có quá nhiều cánh cổng vào mở ra, nên nó cũng đòi hỏi những sự đọc đi đọc lại nhiều lần.

Có lẽ là sự tình cờ, tôi đọc quyển tiểu thuyết này ở nửa cuối năm ngoái cho đến khi sang năm mới (lịch âm), giống như hai tuyến truyện của kết thúc và bắt đầu vậy. Quyển tiểu thuyết này cũng thực sự chạm đến tôi nhất ở những góc sâu khuất rất khó động đến, không phải chỉ bởi vì cái giao cắt nhất định đối với Bóng, hay những triết lý mang tính bản lề mà tôi sẽ còn kế thừa được rất lâu sau này, mà còn ở một cái nhân duyên nào đó từ một cánh cửa đã mở ra, rốt cuộc cũng để tôi đi vào chính mình, ở một tầng sâu hơn từng biết đến.

“Cioran dạy tôi rằng muốn suy nghĩ thì phải ở chiều ngang. Và qua rất nhiều điều không liền lạc với nhau, tôi hiểu ra ông ấy muốn dạy cho tôi một điều rất quan trọng: đọc có ba cấp độ, cấp độ một là đọc để biết những điều mình chưa biết, cấp độ hai là đọc để biết rằng những gì mình tưởng là đã biết hóa ra mình còn chưa biết, nhưng cấp độ ba mới là đỉnh cao, đọc là để biết rằng những gì mình tưởng còn chưa biết hóa ra mình đã biết rồi, chỉ là chưa bao giờ học được cách lôi nó ra từ sâu thẳm đâu đó bên trong con người bí ẩn muôn trùng, tức là bản thân chúng ta.” – Nhị Linh

Văn chương, xét cho cùng là để chúng ta đi tìm từng chút một những mảnh vụn của mình (câu này cũng là ý của Nhị Linh nốt).

Tôi thích tiểu thuyết này của Murakami bởi lẽ ông đã viết một cách rất thoải mái, dù đề tài mà ông tiếp cận (sáng tạo ra một thế giới mới, thế giới ở bên trong) không hề nhỏ, thậm chí nó thực sự lớn. Phạm vi quy mô của những chủ đề mà cuốn sách này tham vọng nói đến rộng lớn vô cùng, và tôi tin rằng nó lớn hơn cả khả năng, bút lực của ông thời đó (quãng 1985, chỉ vài năm sau cái tuổi hai mươi chín khi Murakami quyết định trở thành nhà văn); nhưng ông đã xoay sở một cách nhẹ nhàng để đưa mọi thứ ở trong tầm kiểm soát và vẫn đạt được đến mức độ chất lượng cao cho từng thứ mà ông muốn nói đến. Về sau bút lực mạnh mẽ hơn, và liên tục đẩy giới hạn sáng tạo của mình lên nhưng đôi lúc Murakami vẫn sẩy chân một cách phí phạm. Đọc thêm về cú thất bại của Murakami với 1Q84 tại đây.

Đây là một tiểu thuyết hết sức vô khuyết, nhưng cũng đừng coi nó là một thứ hoàn hảo. Về sự hoàn hảo, bản thân hai xứ sở trong cuốn truyện này cũng là thể hiện của hai thế giới hoàn hảo, nhưng chính trong sự hoàn hảo đó có mầm mống của đổ vỡ, của sự bất toàn. Nơi tận cùng thế giới thiếu linh hồn, còn xứ sở kỳ diệu vô tình thì thiếu ước mơ.

Thế giới hoàn hảo bởi sự bất toàn như thế.

February 1, 2017  Leave a comment

Bóng

Chiếc máy bay vụt lên tầng không đúng lúc nhạc mở bài Snow (Hey oh) của Red Hot Chili Peppers, một giai điệu sôi động, phấn khích. Cùng lúc đó, tôi cũng đang đọc đến đoạn nhân vật chính ở tuyến thứ hai của cuốn tiểu thuyết Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng thế giới tìm được nhạc cụ trong khu nhà kho ở trong rừng. Rất nhanh chóng, máy bay rời bỏ thành phố, vượt lên làn sương mỏng ngăn cách không khí nặng nề tù đọng ở phía dưới với lớp chân không nhẹ bỗng ở bên trên. Tôi bắt đầu cảm thấy lơ lửng, trọng lực dường như quên mất vai trò của nó mỗi khi máy bay lướt nhẹ trên không. Nhìn ra cửa sổ, thành phố đã hoàn toàn luẩn quất sau mây. Chiếc máy bay nằm trọn vẹn trong những đụn mây khổng lồ mịn màng. Bốn phía là mây, trải rộng đến vô cùng. Có cảm giác thực ra máy bay cứ đứng im một chỗ như thế, lười biếng nép mình vào những đám mây dịu dàng, trôi dạt đi bởi gió chứ không còn bay nữa. Ở trên mây, mọi thứ đều trở nên lặng lẽ, uể oải. Có một cảm giác cực kỳ hạnh phúc khi nghe Snow (Hey oh) ở thời khắc máy bay lướt lên không trung; thêm nữa, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết kỳ thú mà tôi đang đọc cũng tìm được chiếc nhạc cụ, chính xác là một chiếc Phong cầm (mà về sau chiếc Phong cầm này có vai trò chìa khoá quan trọng), làm tôi cảm thật tương hợp giữa cả ở ngoài đời và trong sách. Âm nhạc tràn ngập không gian xung quanh tôi theo đúng nghĩa đen, chúng ngấm vào từng tận tế bào, lan đến từng mạch máu, trôi vào sâu thẳm tâm hồn.

Tôi đang bay về nhà để ăn Tết.

Máy bay không còn một chỗ trống, sân bay chật ních người, phần lớn trong đó là người Việt cũng đang háo hức về ăn Tết như tôi. Mắt họ lấp lánh một niềm hạnh phúc xum họp. Đã quá lâu rồi họ chưa trở về nhà chăng? Từng đoàn người hồi hương về xum họp trong lịch sử loài người đều là những cuộc di cư vĩ đại. Như những cánh chim thiên di tránh rét rồi trở về, chúng ta không được phép quên nguồn. Tuổi trẻ có cái khao khát hăm hở đặc trưng, đó là: Đi! Đôi khi là chạy trốn, chối bỏ, chán nản chính nơi chốn mình sinh sống, thèm khát được ra đi, được theo thuyền đón sóng, lênh đênh trên những cuộc hành trình mới mẻ, trôi dạt về đâu cũng được. Nhưng bên cạnh cái háo hức của Đi, sau những cuộc dấn thân ngật ngưỡng vào cuộc đời, nhựa sống tuổi trẻ đã bị bào mòn đi ít nhiều nhiệt huyết, người ta sẽ có một tâm lý bồn chồn ngang ngửa, đó là Về! Văn chương đã nương tựa vào hai đầu của cuộc hành trình bản chất nhất của con người mà hoài thai ra rất nhiều kiệt tác.

Tôi nhập vào đoàn người trở về lê thê ấy.

Chuyến bay kéo dài hơn một tiếng rưỡi đồng hồ, tôi có từng đó thời gian để kết thúc nốt cuốn tiểu thuyết của mình.

Tôi đã biết Hà Nội hôm nay sẽ không lạnh ngay từ khi chập chờn nhìn thấy nắng phát tán dưới tầng mây gần mặt đất nhất. Murakami bảo người ta hiểu đôi chút về thời tiết, nếu ngày nào cũng theo dõi các chuyển động của mây; tôi thì vừa ở trên mây xuống, nên tôi không bất ngờ trước cái nóng nực của mùa đáng lẽ ra phải là Đông đang không ngừng chói chang bốn phía. Mùa đông năm nay quá độ sớm quá, những mùa đông kỳ quặc cứ ấm dần lên và qua đi thật nhanh làm người ta sửng sốt có thật sự còn mùa đông hay không, hay nó chỉ làm một biến thể của mùa gì đó lai giữa mùa thu và mùa xuân, hay mùa xuân và mùa hạ, hay là một sự trộn lẫn của cả ba, để rồi tạo thành một thứ mùa rất không có màu sắc. Cái mùa đông bàng bạc khiến người ta run rẩy yêu nhau đã không còn nữa, kéo theo nó những sự xa nhau rất đỗi vô tình.

Nhưng mặc kệ cái nắng nóng phi lý, không khí Tết vẫn thấm đẫm từ cả lớp sương mỏng bao trùm thành phố ở trên cao. Tết làm người ta vội vã hơn, tất bật hơn, nhưng đồng thời cũng làm người ta tử tế hơn. Tôi thấy những kẻ cứ ra rả đòi bỏ Tết cổ truyền đều là những kẻ ngu xuẩn. Lý lẽ của họ đều có vẻ hợp lý, đôi khi hợp lý đến giả dối, nhưng người ta quên mất một điều là Tết, trong phạm vi khái niệm bản chất nhất của nó, vốn dĩ chẳng có gì xấu. Quốc gia nào mà chẳng có ngày lễ Tết của mình? Chính con người và những thứ bày vẽ phù phiếm xung quanh Tết mới làm cho nó trở nên xấu xí đi. Trong một năm có vài tuần tự dưng vật giá leo thang hẳn lên đến mức phi lý, dịch vụ thì đi xuống, xong rồi con người lao vào vòng xoáy của cúng bái, lễ lạt, bon chen gồng gánh trong những sự chuẩn bị phung phí để có một cái Tết “đủ đầy” dù họ biết rõ rằng những thứ hình thức như vậy chỉ là họ một nghèo nàn đi. Cái chúng ta cần đâu phải là bỏ Tết đi, chúng ta cần là phải bỏ hết hủ tục đi đấy chứ. Mà mặc kệ lũ người ngu xuẩn đang bi kịch hoá Tết đi, hoặc thống thiết kêu gào phải gộp chung Tết này Tết nọ, tôi thấy chúng rặt là một lũ rởm đời. Khi chúng ta chọn nhìn vào cuộc đời bằng cái nhìn đầy bi kịch, thì cuộc đời xung quanh cũng sẽ chỉ ngập tràn bi kịch. Tôi vẫn luôn nhìn vào Tết bằng đôi mắt háo hức đã in hằn vào ký ức bé thơ, dù đã không còn bé nữa. Khác với mọi người cứ luôn tất bật, tôi chỉ đơn giản tận hưởng Tết theo cách nhẹ nhàng nhất.

Về đến nhà, đã được dọn sạch tinh tươm bởi mẹ (thật là biết ơn mẹ!), cùng một số đồ đạc cũ đã được tống khứ đi, căn nhà trông trống hoác hẳn đi so với kiểu của tôi vẫn ở. Mẹ thậm chí còn cắm một lọ hoa để trên bàn, càng làm nó không giống kiểu của tôi ở hơn. Nhưng dù sao bó hoa rất đẹp, mang đến một sắc thái mới mẻ lạ lẫm. Nhờ có mẹ qua chăm sóc hộ mà căn nhà này không có vẻ một căn nhà vô chủ đã lâu mà vẫn có mùi của con người. Cảm giác của tôi giống hệt như cảm giác của nhân vật chính trong Xứ sở kỳ diệu vô tình khi trở về nhà sau một cuộc đi vào lòng đất tối tăm, khủng khiếp; căn nhà đã được một “lực lượng vệ sinh” bí ẩn chu đáo dọn sạch từ bãi chiến trường (sau này nhân vật chính phát hiện ra người dọn nhà cho gã là cô thủ thư ở thư viện, khởi đầu cho một tình yêu oái ăm nhưng cũng rất đẹp). Thấy nhà cửa ngăn nắp khi trở về là một cảm giác tuyệt vời.

Nhưng tôi biết căn nhà này cần nhiều hơn thế để có cảm giác là nhà tôi. Nhìn quanh một lát, tôi định sẽ chạy đi mua một cành đào rừng trang trí để có không khí Tết, và giăng đèn neon các thứ nữa. Hôm nay là hai mươi chín Tết. Không phải quá sớm cho các việc mua sắm nữa. Tôi quyết định sẽ chẳng mua gì cả. Dẹp hết mấy trò đào, quất với cúng bái lễ lạt đi, tôi chỉ muốn cái Tết này sẽ thật nhẹ nhàng và nhẹ nhàng. Cần gì cứ phải có đào, quất thì mới có Tết cơ chứ. Bà ngoại tôi không may qua đời vài tuần trước nên Tết này nhà tôi sẽ hầu như chẳng đi đâu chúc Tết ai cả. Ngoài một số người thân thiết, tôi không có nhu cầu đặc biệt phải gặp ai (các Tết trước tôi vẫn đều đi thăm anh em bạn bè khá đầy đủ), nên về cơ bản thì tôi sẽ có bốn ngày Tết hoàn toàn nghỉ ngơi. Có lẽ tôi sẽ chỉ dọn dẹp qua nhà cửa một chút, chuẩn bị ít bánh kẹo trong trường hợp nhà có khách, mua một ít rượu, đón con mèo về, thay ga gối; đã đến lúc phải thay ga gối rồi, tôi cần một cái mùi khác trong căn nhà mình, mùi hương – đôi khi chúng mang ý nghĩa rất gần với linh hồn, phải, tôi cần căn nhà có một diện mạo khác, một linh hồn khác, nó đã quá cũ kĩ; và chuẩn bị dăm cuốn sách để đọc. Tôi không nghĩ ra việc gì đặc biệt hơn để làm nữa.

Tôi chạy ra phố một lúc, cái nắng nóng giờ tan tầm đã tiêu tan bớt đi bởi không khí lạnh khe khẽ tràn về. Hai chín Tết nhưng ngoài đường vẫn đông đúc đến đáng ngạc nhiên. Mọi người hối hả, tấp nập, nhưng không ai căng thẳng như người ta vẫn hay kêu ca. Tôi mang bộ chăn ga gối mới từ mẹ về và đón cả ChiChi. Lần này về thì chỉ còn mỗi ChiChi thôi, tôi bỗng thấy nhớ Tuti da diết, nó còn chưa có nổi một cái Tết đầu tiên. Về đến nhà, tôi nhanh chóng thay bộ ga gối cũ, vứt hết đống quần áo bẩn vào máy giặt, đốt tinh dầu lên, xịt phòng, cho mèo ăn, bật nhạc. Căn nhà đã có dáng vẻ của tôi hơn. ChiChi hoảng hốt một chút lúc đầu khi mới về rồi sẽ quen ngay với địa bàn mới, nhanh chóng lăn ra ngủ. Mùi tinh dầu toả ra khắp nhà mang lại khoái cảm dễ chịu. Không gian tôi sống cứ phải có một chút mùi hương dụ hoặc thì mới chịu được. Đã xong hầu hết mọi việc quan trọng, tôi đột nhiên rất thèm uống rượu vang nên khui một chai dở ở trên kệ xuống, mang ra sofa nằm đọc sách. ChiChi vừa tỉnh ngủ, đang lục lọi gì đó ở xung quanh. Mùi của mèo là một phần trong linh hồn của ngôi nhà này. Âm thanh có sức sống nhất ở đây là tiếng gừ gừ của mấy con mèo khi chúng yên tâm dựa dẫm vào người tôi ngủ. Nhạc đang chơi của Regina Spektor, album Essentials, vang lừng cả không gian xung quanh, tẩy trần đi không khí trầm mặc. Căn nhà đã tiếp nhận tôi trở về.

Tôi ngồi ở sofa, uống vang đỏ, ăn thịt bò khô. Mặc kệ là thịt bò khô có hợp nhắm với vang đỏ hay không. Lần cuối tôi uống vang là đợt Lộc về Việt Nam mấy tuần trước. Chúng tôi uống vang, đôi khi uống lẫn cả whiskey pha đá lạnh, đến khi nói năng tếu táo thì đi ngủ. Những cơ hội ngồi với bạn thân như thế trong cuộc sống hiện đại càng ít, và càng đáng quý trọng. Tôi đọc nốt tiểu thuyết Xứ sở kỳ diệu vô tình. Đôi khi tôi thấy mình trong chính cuốn tiểu thuyết ấy. Có đoạn nhân vật chính cũng trở về nhà, cởi quần áo, chui lên giường và nhâm nhi whiskey. Đối với gã, đó là một nghi thức ngọt ngào khi đi làm về, là mấy phút đồng hồ yêu thích. Hắn cũng mang sách lên giường đọc và nghe nhạc như tôi. Gã yêu mấy phút ấy như người khác yêu mặt trời lặn hay yêu không khí trong lành. Một tiểu thuyết thật sự tuyệt vời. Tại sao tôi lại bỏ lỡ tiểu thuyết này của Murakami nhỉ? Nếu nói nữa thì tôi sẽ chỉ sa đà vào tán dương, nên tôi sẽ dành kể về cuốn sách nặng ký đầy thu hút này vào một lần sau. Regina Spektor đang hát đến The Call, bài hát tôi đã mê say từ rất lâu. Giọng của nàng da diết, sương khói, đầy ám ánh. It started out as a feeling, which then grew into a hope. Mọi thứ bắt đầu bằng một xúc cảm vu vơ, bỗng biến thành một niềm hi vọng lớn lao sau đó… Cuộc đời có khi đổi thay hoàn toàn từ những khởi đầu giản dị như thế. Những nhân duyên đã đến và sẽ đến. Chúng mình sẽ và chúng mình sẽ.

Chai vang đã hết. Đêm còn rất dài. Tôi quyết định uống nốt chỗ whiskey pha đá lạnh còn lại. Một cảm giác chập chờn xuất hiện. Ánh sáng trong căn phòng không hiểu sao tối dần, như thể ánh sáng đã bị rút đi đâu mất; thay vào đó là ánh trăng dội từ cửa sổ vào, nhưng tôi biết chắc là không hề có trăng ở ngoài kia. Ánh sáng vàng vọt phát tán vào từ bên ngoài trông rất giống ánh trăng, nhưng tuyệt đối không phải, nó chỉ là một thứ gì đó giống trăng mà thôi. Ánh sáng chiếu thẳng vào chỗ tôi ngồi, như thể đèn sân khấu chiếu vào người biểu diễn, khiến cho không gian xung quanh trở nên tăm tối. Tôi cũng không để ý lắm, cứ thế ngồi uống nốt chỗ whiskey còn lại. Chiếc bóng của tôi trải dài đến tận chân tường, nhờ ánh trăng (hoặc một thứ gì đó giống như ánh trăng) mà nó trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Tôi ngồi đó, lặng lẽ nhìn vào chiếc bóng của mình.

Cho đến khi tôi cảm thấy, chiếc bóng hình như không làm theo đúng các động tác của mình nữa.

Cụ thể là khi tôi nâng cốc whiskey lên để hớp cho cạn, cái bóng vẫn khoanh tay ngồi đó nhìn tôi.

Nó cứ nhìn chằm chằm vào tôi, như lúc nãy tôi nhìn chằm chằm vào nó.

Cũng có lẽ tôi đã uống quá nhiều whiskey, nhưng rõ ràng là tôi không thể nhầm được. Chiếc bóng vẫn ngồi đấy, cái tư thế vừa xong của tôi, và nhìn chằm chằm vào tôi. Hay là cái bóng đã bị đóng băng, hoặc giả nguyên lý ánh sáng thế nào đó đã khiến cái bóng không thể di chuyển được theo chính chủ của nó nữa nhỉ?

Tôi chịu không hiểu nổi, bản thôi tôi cũng không dám chắc có thực ở đằng trước mặt mình là cái bóng hay không; mọi thứ cứ lấp loá bởi thứ ánh sáng le lói chiếu rọi từ ngoài vào, làm tôi không phán đoán nổi tôi đang nhìn vào cái gì, đang ngồi ở đâu nữa. Có thể tôi đã ngủ rồi cũng nên.

Nhưng tôi thấy không thoải mái lắm khi ở đằng trước là cái bóng đen cứ nhìn chằm chằm vào mình, tôi còn cảm giác nó đang thiểu não nữa, y hệt nỗi thiểu não của tôi, nên tôi quyết định thử đứng dậy, biết đâu sẽ thoát khỏi cái ảo giác whiskey này. Cái bóng vẫn ngồi đấy. Nhưng rất chậm thôi, nó từ từ đứng dậy, dối diện với tôi.

Tôi biết là sẽ phải chấp nhận sự kì quặc này. Hay là ma chăng? Tôi vốn vô thần nên không tin vào ma quỷ lắm. Ma quỷ chỉ là khái niệm. Con người tạo ra ma quỷ chính là từ nỗi sợ hãi của mình. Nhưng cũng có thể có ma thật, ai mà dám chắc được. Nhất là trước mặt tôi đang là một cái bóng đen kì quặc cứ chằm chằm nhìn mình. Nhưng nếu có là ma thì tôi cũng đếch quan tâm. Ma quỷ mà là phản vật chất thì nó cũng sẽ chẳng làm gì được mình, còn nếu là vật chất thì tôi sẽ dễ dàng đấm chết nó, nếu quả thật nó cân bằng với người về mặt sức mạnh. Tôi trở nên ít sợ ma quỷ ,cái chết hơn sau khi chứng kiến người ta bốc mộ ông bà tôi vài năm trước. Đêm đó, tôi ngồi giữa cánh đồng, canh mộ của hai ông bà để chờ đến giờ làm lễ và thay áo quan. Nửa đêm rất lạnh, bãi tha ma đông nhung nhúc các ngôi mộ liền kề, nhưng tôi không hề thấy sợ hãi, thậm chí còn gà gật được. Có lẽ ông bà tôi đã phù hộ yên lành cho tôi chăng. Trong tôi chỉ ngập tràn một nỗi nhớ tiếc ông bà khi còn sống, và niềm thanh thản khi được ở gần ông bà vào đêm đó đến vậy.

Cái bóng đen của tôi nhìn tôi một lúc, rồi nó lặng lẽ bước đi, mặc cho tôi sửng sốt đối diện. Bóng đi khắp phòng khách, sờ mó vào khắp nơi, ở chỗ nào cũng tỏ ra luyến tiếc, đau khổ. Tôi ái ngại thay cho nó. Rồi tôi thấy nó đứng rất lâu ở trước bếp; bỗng ôm lấy một cái bóng khác, bóng của một người phụ nữ bỗng đâu xuất hiện, từ đằng sau, cũng được tạo ra từ ánh trăng vàng vọt ở bên ngoài. Hai chúng nó có vẻ quấn quít. Một lúc sau, chúng buông nhau ra, rồi bắt đầu xoay xở ở bếp để làm gì đó thoăn thoắt mà tôi hiểu là đang nấu nướng. Hai cái bóng cứ nhảy nhót quấn quít như thế, trong khi vẫn làm các động tác trông rất giống như thái thịt hoặc chiên xào gì đó. Hẳn là một bữa thịnh soạn. Tôi vừa sợ hãi vừa tò mò cứ ngây dại nhìn ngắm hai cái bóng ngu xuẩn không biết ở đâu ra làm hết trò này đến trò khác ở nhà mình. Nhưng nhìn ngắm chúng, tôi nhớ đến một thời quá vãng xa xôi mà ký ức của mình đang trở nên mờ mịt hết cả.

Một trong hai cái bóng biến mất, chỉ còn lại bóng của tôi. Nó ra bàn ăn ngồi một mình, lặng lẽ nhìn vào chiếc bình mang tro cốt của con Tuti ở góc tủ. Rồi tôi thấy bóng của con Tuti nhảy lên lòng nó, kêu gừ gừ rất thật. Bóng của Tuti hơi khác một chút, không đen kịt như bóng của tôi mà có hình dáng màu sắc hơn hẳn. Nói cho đúng ra, bóng của Tuti dần trở thành một phiên bản của chính nó, không phải bóng nữa, mà là hình thật, với lớp lân tinh le lói bao phủ xung quanh lớp lông bóng mượt của nó. Tôi dần nhìn thấy bộ lông của nó, đôi mắt của nó, đôi tai vểnh ngược lên của nó, và cái đuôi dài như đuôi cáo tuyệt đẹp của nó, rõ ràng như thể nó đang thực sự ở đây. Tôi thấy bóng của tôi cầm con chuột đồ chơi lên vứt sang một góc, tức thì Tuti sẽ lao theo ngay để nhặt lại, tha về chỗ cũ. Đây là trò mà tôi vẫn hay chơi với con Tuti, không phải con mèo nào cũng biết tha hồ về chỗ cũ như vậy. Rồi tôi thấy Tuti nhảy nhót, đùa giỡn với chiếc bóng của mình. Tuti chạy đến đâu thì đám lân tinh bao quanh nó đi theo đến đó, làm rực sáng cả một góc phòng.

Khi Tuti biến mất, đám lân tinh kia cũng dần tan biến vào hư không. Đôi mắt của Tuti biến mất sau cùng, nhìn thẳng vào tôi, tròn xoe ngơ ngác, như lần đầu tiên tôi mang nó về nhà.

Tôi mệt mỏi ngồi thụp xuống sofa. Chai vang và whiskey lăn lóc. Tôi với lấy cốc whiskey đã tan ra vì đá, húp cho cạn nốt dù không còn gì. Những ký ức nặng nề đè nặng xuống vai tôi, sức nặng của nó khiến không khí xung quanh cũng trở nên cô đặc, ngột ngạt. Tôi mở cửa ra cho thoáng dù không có một cơn gió nào. Ánh trăng vẫn xanh xao ở đằng xa, chiếu vào tôi yếu ớt, nhưng xuyên thấu tâm trạng tôi một nỗi cực cảm vô bờ.

Chiếc bóng ngồi xuống đối diện tôi, tiếp tục nhìn chằm chằm vào mình. Tôi và nó, như hai cái bóng, nhìn chằm chằm vào nhau như hoá đá, dù tôi biết tôi chẳng thực sự nhìn vào cái gì. Tôi chỉ thấy lấp lánh một nỗi buồn thảm trong ánh nhìn của nó, soi vào đó tôi còn thấy mình buồn thảm hơn. Rồi tôi nhận ra chiếc bóng đen kịt của mình dần có hình dáng, nó không chỉ là một chiếc bóng phẳng dẹt nữa mà đã hoàn toàn trông giống con người, hay là giống chính tôi. Lớp da thịt của nó đổi sang màu hồng, đôi mắt của nó phát sáng ấm áp trong đêm, tôi thậm chí dường như còn nhìn thấy nó mấp máy cười qua chuyển động rất khẽ ở làn môi. Bóng đặt một tay lên vai tôi. Tôi đưa tay ra chạm vào nó. Nhưng bàn tay tôi đã không còn sức nặng thông thường nữa mà trở nên nhẹ bẫng. Tôi thấy mình biến dần thành một màu đen kịt.

Có thể tôi đã trở thành chính chiếc bóng của mình. Trong khi nó biến thành tôi. Nếu thế thì khi ánh trăng kia không còn nữa, tôi sẽ biến mất chăng. Điều đó ngang gì là cái chết? Mà nếu chết thì sao, tôi càng không quan tâm. Đã từ lâu, ham muốn được chết của tôi cũng lớn như ham muốn được sống, đôi khi còn lớn hơn. Như Murakami nói, bản thân cái chết không làm tôi sợ lắm. Như lời Shakespeare: Ai chết năm nay thì năm sau khỏi phải chết. Tôi không có quá nhiều thứ đặc biệt phải luyến tiếc ở cuộc đời này, thế thì có gì đáng sợ đâu? Người ta ai cũng phải chết kia mà, nhất là khi tôi có thể sẽ chết khi đã trở thành cái bóng của cái bóng của mình, như thế thì lại tuyệt đối không có gì đáng tiếc.

Cái bóng đặt tay lên tôi, tôi biết là nó muốn an ủi cho những vết thương tôi đã mang trong lòng. Nhìn rất sâu vào đôi mắt đang trở nên đen kịt của tôi, ánh mắt của nó soi chiếu đến tận cùng sâu thẳm tâm hồn còn sót lại chưa bị đóng băng đen kịt. Tôi thấy đôi mắt của nó toả ra một đám lân tinh nhỏ rực rỡ như những ngọn lửa, dịu dàng phủ xuống quanh tôi như những thiên sứ phúc lành.

Ánh trăng yếu dần rồi tắt hẳn. Bóng của tôi thoi thóp dần rồi biến mất trong hàng vạn điểm lân tinh rơi rớt. Màu đen kịt trên cơ thể tôi biến mất, trả lại hình dạng nguyên thuỷ con người cho tôi.

Whiskey bắt đầu phát huy tác dụng. Tôi biết là mình không thể cưỡng lại được nữa. Cơn buồn ngủ xâm chiếm dữ dội như cuộc xâm lăng của người ngoài hành tinh khác. Tôi bị kéo tuột vào giấc ngủ như rơi xuống vực thẳm. Tiếng kêu của con Tuti là âm thanh cuối cùng tôi kịp nghe thấy.

Ở ngoài kia ngập tràn cái âm thanh ấy, âm thanh của im lặng.

Sáng hôm sau thức dậy, tôi biết mình đã trở thành một người khác. Bóng cũng là người mà người cũng là bóng. Cái bóng đã không còn tách rời tôi nữa.

Ngôi nhà này cần có linh hồn.

Tôi đi tìm linh hồn cho nhà mình.

Biết không em…

February 1, 2017  Leave a comment

Phương

Trên chuyến bay hôm ấy, tôi đã nghe toàn bộ nhạc của Lê Uyên Phương. Cứ lúc nào cần tìm một thứ gì đấy, tôi lại nghe Phương. Một thứ gì đấy, nếu ai nghe hoài hoài thứ nhạc khắc khoải lo âu của gã trai giang hồ phiêu bạt, sẽ hiểu. Âm nhạc của Phương tràn đầy một sự giục giã. Giờ này còn nhìn nhau, ngày mai ta không còn thấy nhau.

Nơi đây, khoảnh khắc này, và ký ức.

Mười năm kể từ nghe tân nhạc; khởi sự bằng Trịnh, tôi đã nương theo dòng chảy tình ca mà tiến tới rất nhiều tri kỷ. Dòng chảy ấy lần lượt cuốn vào trong nó những lời thống khổ của Trầm Tử Thiêng, Từ Công Phụng, Phạm Đình Chương, rồi chầm chậm đưa đẩy tôi về miền đồi nắng gió Đà Lạt để gặp Phương, tri kỷ sau cùng.

Mang trong người dòng máu giang hồ của thân phụ, ở tuổi đôi mươi, Phương đã đi bôn ba khắp miền duyên hải, làm đủ mọi nghề để kiếm sống, trước khi trở về lại Đà Lạt và khởi sự sáng tác. Âm nhạc của Phương là âm nhạc dành cho những tâm hồn trôi dạt, để kệ cuộc đời lặng lẽ cuốn đi. Tôi không có thiện cảm mấy với những kẻ sắp xếp cuộc đời ngăn nắp, cầu toàn, toan tính định trước, bám víu vào sự an toàn, cả đời chỉ ở trong một thứ; tôi luôn thấy ở họ nỗi sợ hãi những sự thay đổi, mà lại còn cực kỳ nhàm chán. Tôi chỉ thấy thu hút với những kẻ vứt bỏ cuộc đời mình trên những con thuyền lênh đênh dạt sóng, những kẻ bất quy tắc, những kẻ chấp nhận dấn thân, vượt ngoài khuôn khổ. Những kẻ trôi dạt liều lĩnh ấy chẳng còn gì để mất, nên đồng thời cũng chất chứa rất nhiều chân thật.

Phạm Duy nhận xét âm nhạc của Phương là thứ âm nhạc không mang tham vọng lớn, hoàn toàn thuần tuý chỉ là âm nhạc của dục tình. Tôi cũng thấy những kẻ mang tham vọng lớn thật là thống thiết, họ cứ cố leo lên cao mãi, đôi khi xảy chân vào vực thẳm cuộc đời không sao trồi lên lại nổi. Ngược lại, những kẻ mong ước nhỏ nhoi, thậm chí không mang tham vọng, cứ thản nhiên đi theo bản năng vẫy gọi, lại rất nhiều khi dựng xây được những kỳ tích phi thường. Lê Uyên Phương chính là nhạc sĩ lớn nhất của Việt Nam, nhạc sĩ tuyệt đối, nếu chỉ xét về phương diện tình. Phương đã sáng tạo ra hẳn một dòng nhạc; trước chưa có dòng nhạc nào như thế, sau này cũng không có dòng nhạc nào như thế, chân chính biểu trưng cho tình yêu ở mức độ cao nhất, và thuần tuý nhất, của nó – dục tình.

Tôi nhớ đến Phương của quãng thời gian rạo rực tuổi trẻ, ngồi lặng lẽ bên Lê Uyên trên đồi thông Đà Lạt, trao cho nhau những hẹn thề nắng gió. Thời đó gã giang hồ đã gần ba chục tuổi đầu, chẳng còn lành lặn sau những đổ vỡ và phiêu bạt đường đời, mang trên mình rất nhiều vết thương, bỗng phải lòng cô bé con gần nhà, lúc đó mới ở tuổi đôi mươi, còn ham bay nhảy; mà không biết rằng đó chính là thú đau thương định mệnh sẽ đi theo suốt kiếp. Chúng ta có Phương từ lúc đó. Nhưng mầm mống bệnh tật, cùng cấm cản nghiệt ngã của gia đình, đã không cho chàng được tự do yêu đương, nỗi ám ảnh chia lìa đã yểm vào âm nhạc của Phương những lời ca vùng vẫy, tuyệt vọng, càng khiến cặp song ca tài tử đó quấn quít nhau hơn trên sân khấu, và trong những nốt nhạc. Chàng ôm đàn, nàng hát, tình tứ như trong cuộc ái ân. Cuộc tình trốn chạy và hạnh ngộ mười lăm năm từ thủa hồng hoang Đà Lạt ấy đã hoàn tất cuộc đời khắc khoải của gã trai giang hồ trong những bản tình ca buồn bã.

Mỗi khi thấy mình chấp chới lo âu, tôi lại nhớ đến Phương. Tôi đã không biết là Phương sẽ có ý nghĩa đối với mình như thế, cho đến khi âm nhạc đó nói cho tôi hiểu, những đổ vỡ, đắng cay chỉ là để thú đau thương được nếm trải đến tận cùng.

Cho tôi yêu em nồng nàn
Cho tôi yêu em nồng nàn
Dù biết yêu tình yêu muộn màng
(Tình khúc cho em)

February 1, 2017  Leave a comment

« older posts newer posts »