Xử sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng thế giới

Trầy trật với kết quả kinh doanh tháng rồi không phải tệ lắm (chán thật, khi phải bắt đầu việc viết bằng một thứ liên quan đến công việc như vậy, nhưng thực chất nó là thế, tôi không thể chối bỏ được, chỉ làm xong những việc đó thì tôi mới làm được các việc khác. Việc khác là gì?), kết thúc cuộc họp, nhẹ nhõm rời khỏi văn phòng, tôi nhanh chóng chạy lên trung tâm ăn trưa. Quán tôi chọn là Pepper Lunch, một chuỗi fast-steak của Nhật với món cơm jumbo bò rang xèo xèo trên bếp, ăn ngay khi chế biến. Ăn xong, ném mình vào Starbucks, tôi nhận ra là đã hai ngày rồi mình chưa nạp caffein vào người. Quán chật ních, cũng dễ hiểu thôi cho một ngày thứ bảy. Tôi chấp nhận ngồi ngay quầy bar, chứng kiến các cô phục vụ béo tốt xinh đẹp luôn tay luôn chân, chấp nhận luôn hầu hết ánh mắt của khách khứa chọc vào mình vì chỗ tôi ngồi là nơi ra đồ, ai cũng phải đứng đây đợi. Phần lớn thời gian tôi mặc kệ tất cả, dẫu sao thì tôi cũng chẳng quen ai. Tôi lấy sách ra đọc. Frank Kafka. Thực ra tôi muốn thử đọc Balzac hơn, nhưng lại không có cuốn nào.

Ngày đầu tiên của tháng tư. Bangkok bước vào mùa hè nóng nực của mình với tất cả sự thiêu đốt và dấp dính trên lưng áo. Cái xứ này thì quanh năm nắng nóng, nhưng có những thời điểm cái nắng nóng đỡ bực bội hơn mà phả vào gáy người dân những cơn gió thực sự dễ chịu. Ngồi cafe ở quán gần văn phòng, là sân sau của một toà nhà thương mại với đầy đủ cây xanh và bóng mát xung quanh, với những tiểu cảnh sân vườn dễ chịu, giữa tháng ba chuyển mùa, rất nhiều khi tôi thấy thế giới đã nhượng bộ mình. Nhưng cũng có những cuối tuần như cuối tuần này, cái nắng nóng dấp dính báo hiệu cho ta biết mùa hè sắp tới sẽ thực sự ác liệt.

Dân chúng hối hả đi rồi đến ở xung quanh, quán vẫn không ngừng chiến đấu với sự đầy lên rồi vắng đi của con người. Tôi bật Linkin Park nghe, nhanh chóng tạo một màng lọc với thế giới xung quanh bằng âm nhạc, để chìm vào vũng lầy của mình. Hầu hết thời gian, tôi không đếm xỉa gì đến thế giới này nữa khi cắm tai nghe vào tai, lang thang vô định. Thế giới đã quên mất tôi, hoặc nói đúng hơn, tôi quên đi thế giới, như vẫn thường làm vào cuối tuần. Chẳng có gì đáng để nhớ đến. Không gì nhẹ nhõm hơn việc hoàn thành nghĩa vụ với những đương đầu của cuộc sống, rồi nhanh chóng được quên đi, để tạm lánh vào thế giới của mình. Tôi thèm khát được quên lãng đến phát điên, nhưng thảng hoặc đôi khi vẫn có những việc xảy ra, rồi khiến mọi thứ nát bét. Tôi đâu có nhiều đòi hỏi gì trong cuộc đời này ngoài việc được yên thân một lúc. Cuộc chiến để có những cuối tuần yên thân có lẽ là cuộc chiến cốt yếu, cốt tử.

Mike đang hát Somewhere I belong. “When this began, I had nothing to say…”. Một ngày quá đỗi bình thường. Giống như bất kể một ngày hoàn toàn bình thường nào khác.

Chính lúc đó, tôi bỗng tự hỏi nếu đây là ngày cuối cùng mình phải sống thì sẽ ra sao. Nếu ngày mai mình chết đi, vân vân và vân vân. Khi lặn lội vào câu hỏi mệt mỏi này, nhiều người hẳn sẽ lên những bức tranh kế hoạch hoành tráng cho ngày cuối cùng trên đời, rơi vào khu rừng của các thể loại câu điều kiện loại 2 và loại 3 “nếu…thì…” đầy cạm bẫy. Như một nhân vật của Murakami từng nói, người nào chỉ còn sống được 24 giờ nữa sẽ có vô số việc phải làm, họ sẽ tức tốc tranh thủ nốt quãng đời ngắn ngủi còn lại với những ham muốn mãnh liệt được làm cái này, cái kia. Có thật thế không? Sau khi suy nghĩ rất lung, tôi rút ra kết luận là, bất kể thế nào thì ngày cuối cùng của cuộc đời, tôi cũng sẽ chỉ làm những việc như vẫn thường, nếu quả có ngày đó thật.

Đó chính xác là số phận của nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết tuyệt đẹp của Murakami, Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng thế giới. Bỗng nhiên một ngày, sau khi nhân vật chính dính vào hết những điều phi lý kinh ngạc xảy đến với mình, có người nói với gã là thôi nhé, hôm nay là ngày cuối ngươi được sống. Cuộc sống của ngươi sẽ kết thúc ở thế giới này, để mở ra ở một thế-giới-khác. Tận hưởng nốt ngày hôm nay đi nhé.

Hầu hết các nhân vật của Murakami đều bị kéo thốc vào một cuộc hành trình bất ngờ dụ hoặc mà không kịp mang theo gì. Đang sống thông thường, bỗng có một sự kiện xảy ra, ai đó xuất hiện, nói (đúng hơn là yêu cầu) họ phải tức tốc lên đường. Họ có rất ít thời gian để suy nghĩ và chuẩn bị. Gần như không có lựa chọn. Cứ thế dấn thân, chẳng mang theo gì cả theo đúng nghĩa đen. Hầu hết trong mọi trường hợp, các nhân vật nhanh chóng tẩu tán tài sản, nhà cửa, gần như chẳng tạm biệt ai, đôi khi thậm chí còn chẳng làm gì, nhanh chóng bỏ lại toàn bộ sự nghiệp dường như cũng chẳng quan trọng lắm. Có vẻ như họ đều là những người sẵn sàng buông bỏ cuộc sống, chỉ chờ một cuộc gọi là cuốn chiếu khỏi gánh nặng cuộc đời. Những con người chỉ chờ để trôi dạt.

Dễ dàng buông bỏ cũng thể hiện việc khoảng cách giữa con người thực sự rất xa. Trong 1Q84, nếu tôi nhớ không nhầm, Tengo chỉ mang theo cuốn sách và một cây bút khi lên đường tìm lại Aoname, cô bạn gái từ thời đi học của mình, bỏ lại toàn bộ sự nghiệp văn chương đầy hứa hẹn, buông bỏ luôn những kế hoạch cuộc đời. Nhân vật chính của Cuộc săn cừu hoang, vốn đã ly dị vợ sau bốn năm chung sống, cũng nhanh chóng không nối tiếc gì, bỏ lại căn nhà, công ty đang điều hành và những lặt vặt cuộc sống bên cạnh, rồi cuốn vào cuộc hành trình đi vào tầng sâu hơn của chính mình. Nhưng không có cuộc buông bỏ nào khốc liệt như nhân vật chính trong Xứ sở kỳ diệu vô tình – gã bị bắt buộc lôi vào cuộc chạy trốn chính cuộc đời của mình. Điểm cuối của cuộc hành trình ở phía bên này, rất rõ ràng, khốc liệt, là cái chết. Bên kia cái chết là một thế giới mới, hứa hẹn sẽ tốt đẹp hơn. Nhưng dẫu thế nào có người đến bảo ta phải chết đi thì cũng là một sự kiện kinh khủng.

Hãy sống như ngày mai bạn không còn sống nữa. Tôi kinh sợ nhất là những khẩu hiệu như vậy, nghe thì rất có lý, tạo động lực các thứ, nhưng nếu con người thực sự nhận thức được rằng cái chết có thể đến bất cứ lúc nào thì thế giới đáng lẽ sẽ tốt đẹp hơn biết bao. Sở trường của con người là trì hoãn, trì hoãn mọi thứ, kể cả việc sống cho ra sống, cho đến khi không thể sống nữa, vì cứ nghĩ rằng có thể trì hoãn tiếp. Từ đó mà nuối tiếc cứ nối tiếp nuối tiếc mãi. Con người vẫn cứ “nếu… thì…” một cách thảm hại. Nên những nhân vật của Murakami, đại diện cho lớp người bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng buông bỏ, chẳng hề tiếc nuối, tự bản thân cũng trở thành một lý tưởng sống đặc biệt. Nhìn lại cuộc đời mình, không có quá nhiều thứ thực sự xứng đáng níu kéo mình nữa, không hẳn là chúng quá tệ hại, chẳng có gì tệ hại cả, ngược lại thì đúng hơn, mọi thứ quá yên ổn tốt đẹp; nhưng dường như từ lâu tôi đã tự chuẩn bị cho mình với tất cả sự buông bỏ khi cần, ai biết được cuộc hành trình tiếp theo sẽ kéo thốc mình vào cái gì?

Nửa sau của cuốn tiểu thuyết hoàn toàn là thước phim chiếu chậm của hai mươi tư giờ cuối cùng của gã nhân vật chính. Thoát khỏi đường hầm với những hang hốc và cạm bẫy trong bóng tối của lũ ma đen, gã cùng cô gái mập mạp mười bảy tuổi trở về thế giới trên mặt đất của Tokyo, quay về căn hộ của mình và ngẫm nghĩ xem gã muốn làm gì trong ngày cuối cùng của cuộc đời.

Hôm đó là một ngày mưa tháng mười buồn bã. Những ngày mưa cuốn ta vào dòng chảy ướt đẫm của nó, nhấn chìm trong những suy nghĩ và ký ức lầy lội của những cuộc tình phóng đãng đượm mùi tuổi trẻ. Chẳng có gì hợp lý hơn để làm trong những ngày mưa là nhớ đến người yêu cũ, hoặc cảm thấy may mắn vì đã thoát khỏi được một cuộc tình như thế, hoặc cảm thấy nghi hoặc liệu mình đã thực sự thoát khỏi cuộc tình đó chưa, và thở dài nhẹ nhõm khi thấy khoảng cách đã xa hơn vùng an toàn. Mưa vào ngày cuối cùng của cuộc đời thì lại càng tệ, nó đẩy ta xa dần hơn khỏi thế giới này. Trong lúc ngồi đó chờ mưa và nghĩ xem mình muốn làm gì trong hai mươi tư tiếng còn lại, gã quyết định rằng mình muốn gặp nàng, cô thủ thư xinh đẹp, cho một bữa ăn tối. Nàng nhận lời.

Không có gì quá đặc biệt để làm trong ngày cuối của cuộc đời, dù biết rằng thời gian vàng ngọc được sống sắp hết; thế nhưng gã vẫn phung phí vài chục phút đồng hồ trong tiệm giặt đồ. Sau đó là các hoạt động không thể bình thường hơn: Mua thuốc hút, vào quán bia uống vài chai, ra hàng đĩa nhạc mua vài băng cassette bật nghe trên oto, đi mua quần áo mới để mặc trong buổi hẹn. Gã đón nàng ở trước thư viện, đưa đến một nhà hàng Ý, ăn hết những món ngon nhất rồi về nhà nàng, khởi đầu cho một sự bùng nổ của cuộc tình bằng ba lần làm tình liên tiếp, rồi lặng lẽ ôm nhau nghe Bing Crosby. Đó là nửa đêm. Trước khi tất cả thiếp đi vào giấc ngủ.

Ngày hôm sau, tỉnh dậy trong ảo ảnh của những mộng mị buổi sáng, khác với những tiểu thuyết khác, nàng vẫn ở đấy chứ không biến mất, đặt gã nhân vật chính vào một thực tại dịu dàng của ngày cuối cuộc đời mình không lẻ loi đến thế. Họ cùng nhau ra công viên, nằm dài ở đó nghe nhạc, ngắm mây trôi lững thững. Mọi thứ xung quanh gã đều là ảo ảnh, đều là ký ức. Rồi họ chia tay, gã ôm nàng, ghi nhớ rất kỹ hơi ấm từ cái ôm dài đó.

Gã lái xe đi đến những vùng trời khác, những nơi chốn khác. Âm nhạc lặng lẽ trải dài. Những miền ký ức xa xôi chấp chới chạm vào những góc khuất mơ hồ nào đó. Gã nhớ đến những mất mát của mình, như những cơn sóng nằm dưới đại dương, chỉ chực trào lên bất chợt.

Rồi giấc ngủ tìm đến. Mưa vẫn rơi không ngừng.

May 27, 2017  Leave a comment

xuống thấp

Văn chương, thi ca, và cả âm nhạc – tôi chỉ tìm thấy những mảnh nhỏ của mình trong chúng. Có thể là có những cái khác nữa, nhưng có lẽ cũng chẳng mạnh bằng.

Những cuốn sách cứ tự tìm đến với tôi, lần lượt nói cho tôi hiểu, tôi là ai, loay hoay trong cuộc đời này làm gì. Những mảnh vụn ấy cứ tự ghép lại dần thôi.

Có những lúc rách rưới nhất… Patrick Modiano nói cho tôi rằng, yên tâm đi, cuộc đời vẫn có thể hướng lên trên được đấy.

Dẫu có thế nào, tôi vẫn chọn hướng lên trên, kể cả khi đã xuống rất thấp.

May 25, 2017  Leave a comment

Forever and one

nguồn ảnh: Homelessness ZDA

“Em đến cõi tình thiên, ta về nơi nghiệt hải…”

Trong đám đông cuồng loạn đó, tôi bỗng chú ý đến nàng, người duy nhất không gào thét theo tiếng âm nhạc kim loại đang không ngừng được ban nhạc chơi trên sâu khấu đỏ rực bởi lửa. Nàng đứng bất động, lẫn vào đám đông nhưng vẫn hoàn toàn cách biệt với xung quanh, dựa lưng vào tường, lặng lẽ khóc. Vẻ bình thản của nàng không che dấu nổi những chất chứa dồn nén ở bên trong. Không khí xung quanh nàng thấm đẫm một nỗi thống khổ, thảm thiết. Một cô gái đứng khóc lặng lẽ trong đám đông đang quay cuồng theo tiếng nhạc kích động dường như là điều lạ lùng nhất tôi từng thấy. Chẳng ai chú ý đến nàng cả, trừ tôi. Dù tôi cũng đang hoà lẫn vào đám đông cuồng loạn đó, không ngừng lắc lư theo điệu nhạc quay cuồng. Tôi không thực sự nhìn rõ nàng, trên thực tế tôi đã gần như rơi vào một trạng thái lơ lửng mộng mị của Gin và khói thuốc chập chờn; trong cái không gian chát chúa đó, thật khó để thực sự nhìn rõ điều gì. Tôi thả mình trôi đi theo đám đông không ngừng xô lệch xung quanh, mặc kệ cho những dẫm, đạp, lôi, kéo đẩy mình đi hết sang trái rồi sang phải. Tôi chỉ làm hết sức để kháng cự lại việc mình ngã gục xuống và bị đè bẹp, ngoài ra không thực sự quan tâm đến điều gì. Năng lực suy nghĩ của tôi đã dần tê liệt rồi. Những vết thương ở toàn thân dường như đang dần loang máu.

Đó là khoảnh khắc khi ban nhạc chơi bản Stairway to heaven của Led Zeppelin. Đêm nay là một đêm nhạc Rock của quán quen trong thành phố. Khán phòng kín đặc người. Những đêm nhạc Rock có mùi tuyệt vọng rất riêng, không khó để nhận ra nó đã hoà lẫn vào từng xác thịt đang quay cuồng buồn thảm. Tôi không hề nhớ tại sao mình lại ở đây. Cả những vết đau trên thân thể cũng không rõ đến từ đâu nữa. Tôi nhận ra mình đã rơi tõm vào đám đông đó từ lúc nào, xung quanh không một bóng người quen. Kể cả tình cờ có người quen đi nữa thì trong cái đám đông đen kịt hoà lẫn những người đó thật khó để phân biệt ra ai với ai. Tất cả là những bóng đen kịt không rõ hình thù. Trong cảnh tranh tối tranh sáng đó, chỉ có nàng là thực sự hiện rõ hình người, với hào quang vô hình mềm mại toả ra xung quanh ngăn cách nàng với bóng tối thù địch.

Ban nhạc kết thúc bản nhạc trong tiếng vỗ tay phấn khích của đám đông. Đèn vàng sân khấu lạnh lẽo chiếu xuống, mang lại chút sinh khí yếu đuối cho không gian đặc quánh xung quanh. Gã MC giới thiệu một màn trình diễn khác và mời ca sĩ lên sân khấu. Rất ngạc nhiên, chính là nàng. Ánh đèn rọi xuống sáng rực, phủ một không khí huy hoàng giả dối lên toàn bộ tấm thân của nàng. Nàng từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt vô hồn nhưng rực rỡ thuỷ tinh ấy nhìn thằng vào đường dẫn ánh sáng ở trước mặt, từ từ bước lên sân khấu. Ở nàng toả ra một nguồn năng lượng u uất thần bí. Không còn dáng vẻ uể oải thất thần nữa từ khi ánh sáng chiếu xuống, tôi ngạc nhiên tự hỏi nỗi thổn thức của nàng đã biến đi đâu mất. Nàng lặng lẽ cười trước khi bước đi, mang trong đó toàn bộ sự tuyệt vọng thảm khốc kín đáo. Đám đông hò hét mở đường, vỗ tay không dứt. Họ gọi to tên nàng. Hoá ra nàng dường như là một ca sĩ có tiếng của quán này. Đèn tắt dần. Nhạc đã nổi lên. Vần vũ như thánh đường vang lên lời kinh nguyện.

Nàng cầm lấy chiếc micro như ôm ấp một sinh linh nhỏ bé, chầm chậm hát. Chậm rãi. Điềm đạm. Những nỗi đau vô ngôn cũng buồn bã cất cánh.

What can I do?
Will I be getting through?
Now that I must try
To leave it all behind

Đó là bản Forever and one của Helloween. Giọng của nàng ấm áp, bi tráng, ngập tràn thống khổ, như tiếng từ cõi khác vọng về. Một âm thanh khắc khoải có tác dụng xoa dịu nỗi đau, nhưng đồng thời cũng đánh động nó. Đám đông dường như trải qua một cơn xúc động mạnh mẽ. Và cả tôi nữa. Một sự xúc động đánh thẳng vào trái tim mình, mang về những cảm xúc xa vắng đã cất giấu vĩnh viễn trong ngăn kéo tâm hồn từ nghìn năm nay, phong ấn lại bằng biết bao đổ vỡ và mất mát, đột ngột trở lại như những đợt sóng ngầm nằm dưới thuỷ triều. Ký ức lung linh kéo dạt con người vào những hoài niệm đẹp đến thảm khốc. Nỗi đau đội mồ sống dậy, chỉ trực nuốt chửng ta vào những vũng lầy thời gian xưa cũ không sao thoát nổi. Hình như con người hầu hết đều bị đóng đinh vào một dấu vết thời gian nào đó, một khoảnh khắc khắc nghiệt nào đó, nơi tàn nhẫn định đoạt toàn bộ phần linh hồn con người ta phải bị trói giữ ở đấy, vĩnh viễn không thoát ra nổi. Có những người sống mà như chết rồi. Có những người cả đời chỉ đi tìm lại một thứ đã mất. Con người về cơ bản là tuyệt vọng.

Nàng phủ kín người bằng một màu đen, áo dài và quần ôm sát, tóc đen dài xoã theo cơ thể, một phục trang giản dị trên sân khấu. Khi hát, nàng chỉ nhìn vào một điểm mơ hồ nào đó ở phía trước, hoàn toàn không để ý gì đến xung quanh. Thế giới vô hình đối với nàng. Nàng không còn khóc nữa, nhưng nỗi niềm và sự thổn thức cứ thế chảy tràn ra theo câu từ vô vọng. Nàng còn ý thức không? Tôi không hề biết.

Forever and one
I will miss you
However, I kiss you
Yet again
Way down in Neverland

Ban nhạc đã chơi như lên đồng, như thể có cả một dàn giao hưởng đang nhịp xướng, âm nhạc uy nghi vang rền cuồn cuộn chảy vào cả những góc khuất nhất của quán, làm bong tróc đi cả những mảng tường cũ mòn. Toàn thể sinh vật sống bao gồm cả con người trong không gian mà âm nhạc phủ tới đều thổn thức nghe, quằn quại trong sự cuồng loạn của mình. Tôi cũng dần hoà lẫn vào trong đám đông phấn khích ấy, mặc cho những ảo ảnh lấp loáng không thật ở trước mắt. Tôi không thực sự còn nhìn rõ được điều gì. Trong không khí nửa tỉnh nửa mê ấy, có lẽ tôi đã đến một thế giới khác khi cảm giác chân mình bồng bềnh không còn chạm đất. Tôi bắt đầu thấy các bóng đen dần biến mất, chỉ còn lại nàng rực rỡ ở trên cao.

Tiếng ngân dài của nàng đi dần vào xa vắng, cuốn sâu vào lịch sử, mang theo niềm tiếc nuối đau đớn. Nhạc tắt dần rồi im bặt. Đám đông vỡ oà, đã bao lâu rồi họ mới được nghe thứ âm nhạc hạnh phúc đến như thế? Tiếng vỗ tay như nổ tung nền trời. Nàng đứng đó, huy hoàng trên sân khấu, nhưng ngăn cách bởi sự cô độc tuyệt đối xung quanh.

Hai tay nàng nắm chặt chiếc micro, bất động nhìn vào đám đông hò hét ở phía dưới. Từ từ hướng ánh mắt của mình lên trần nhà, nàng khẽ mỉm cười lặng lẽ. Đó là nụ cười của người nghệ sĩ hoàn thành màn trình diễn của mình; nhưng đâu đó trong sự u uất của nàng, nụ cười đó có ý nghĩa nhiều hơn thế, nó báo hiệu cho một sự hoàn thành tâm nguyện, một sự kết thúc, một sự khải hoàn để sẵn sàng tan biến đi. Vẻ mặt của nàng cũng dần dần thay đổi, sáng bừng lên, rạng rỡ một niềm thanh thản.

Nàng không thôi nhìn lên trần nhà, chiếu theo hướng tia nhìn của nàng, tôi kinh ngạc nhận ra trần nhà bỗng trở nên trong suốt, nhìn xuyên thấu đến bầu trời đêm thăm thẳm. Bầu trời tràn ngập những vì tinh tú quần tụ lại thành những chòm sao nhỏ rực rỡ. Mây dường như đã biến đi đâu mất, để lộ ra cả thiên hà đã tụ hội ở ngoài kia, không ngừng phát quang ánh sáng huyền ảo. Ở thành phố khó có thể ngắm nhìn bầu trời đêm đầy sao rõ ràng đến như thế, một vẻ đẹp siêu thực đến huyễn hoặc khiến tôi hồ nghi chính mắt mình. Đằng nào thì ở cái trạng thái lơ lửng đó, tôi cũng không cách nào nhìn rõ được bất cứ điều gì. Nhưng ý thức ở bên trong nói cho tôi biết bầu trời rực sáng thiên cung kia là thật, dù nó đẹp đến phi lý, đẹp đến tàn nhẫn.

Nàng vẫn mải miết ngắm nhìn bầu trời ở trên kia, nụ cười không tắt. Ánh mắt nàng như thể đã bị thôi miên bởi ánh sáng tà dị của sao trời.

Nhưng vẫn còn có thể huyễn hoặc hơn được nữa; những chòm sao đêm ấy bỗng vần vũ quanh một vì sao gày guộc le lói và dần dần quy tụ lại, từng chút một, thành một hình người. Thành một thứ gì đó giống như hình người thì đúng hơn, vì thứ đó hoàn toàn không có mắt, mũi, chân tay thực sự mà chỉ là những hình dáng mô phỏng bởi tinh tú xung quanh; nhưng vẫn không khó để nhận ra hình dáng một người đàn ông mờ ảo. Một người đàn ông có gương mặt ảm đảm. Hai hốc mắt của gã là hai ngôi sao vằng vặc. Gã đứng đó, ở trên cao, trong hình hài rất giống một thiên sứ giáng trần. Hào quang xung quanh gã toả ra một hơi ấm nhiệm màu. Từ bầu trời đêm, gã hướng ánh nhìn xuống phía dưới nàng, chìa tay xuống ban phát vầng hào quang dịu dàng rọi thẳng vào người nàng đang đứng bất động trên sân khấu. Tôi kinh ngạc nhận ra đám đông dường như không hề biết đến những sự kì lạ này. Chỉ mình tôi là nhìn thấy. Nhưng chính nàng dường như cũng không nhìn, hoặc để ý đến tôi. Nàng chỉ lặng lẽ bất động ở đó, nhìn ngắm sao trời.

Rồi từ một khoảnh khắc nào đó, chiếc bóng của nàng; mãi một lúc tôi mới hiểu thực ra không phải bóng, mà là linh hồn nàng, đột ngột thoát ra rồi bay lên miền trời thăm thẳm đó. Phần linh hồn xanh xao ấy từ khi rời khỏi nàng, nương vào dòng hào quang ấm áp như đón nhận một sức sống mới, rực rỡ hẳn lên. Linh hồn của nàng hoà lẫn vào gã đàn ông, được bao bọc bởi những chùm sao vần vũ xung quanh, biếc lên một thứ ánh sáng trải rộng tới chân trời.

Dòng hào quang chiếu xuống sân khấu tắt dần. Thân xác còn lại của nàng vẫn không ngừng bất động. Đám đông dường như đã hoá đá xung quanh. Thời gian từ bao lâu đã ngừng lại. Âm nhạc vọng lên những dĩ vãng của chính nó. Ngay cả các vết thương trên người tôi cũng đã dịu đi. Chỉ còn một sự cô liêu cực cảm xung quanh mình.

Nàng đã bước xuống sân khấu, rẽ qua đám đông bắt đầu phấn khích trở lại, lặng lẽ thoát khỏi khán phòng. Nàng đi ngang qua tôi ở cửa vào, ánh mắt không chạm nhau nhưng tôi cảm thấy một sự xuyên thấu, như thể nàng đã ở bên trong tôi từ kiếp trước. Thân xác không còn linh hồn của nàng đi qua khỏi tôi, một luồng không khí lạnh kéo theo cuốn tôi vào một nỗi sợ hãi vô hình. Trong một chốc, tôi bỗng cảm thấy nàng không hề còn ở đấy nữa. Thứ còn lại ở nàng chỉ là một khái niệm mơ hồ nào đó thôi. Cái bóng đen đó cắm cúi bước đi, mỗi bước xa dần khỏi tôi nhưng cũng dường như tiến dần sang một thế giới khác.

Không phải chỉ mình tôi để ý đến nàng. Tôi nghe thấy giọng gã bartender ở quầy bar cảm khái:

– Tội nghiệp M. người yêu cô ấy vừa chết hôm nay…

Câu nói đó mang tính thức tỉnh. Đúng lúc ấy, tôi bỗng hiểu nỗi sợ hãi của mình. Tôi cảm thấy gương mặt của gã đàn ông ở trên cao vô cùng quen thuộc, nhưng không thể nhớ ra đã gặp ở đâu.

Rồi tôi thấy thân thể của mình trở nên trong suốt, vỡ vụn ra dần. Những vết đau trên người tấy đỏ, rực sáng. Tôi cảm nhận rất rõ từng phần thân xác đang tan rã rời xa khỏi mình, từng chút một cho đến khi không còn gì nữa.

Liếc mắt lên trên cao, tôi thấy họ đang nhìn mình. Rồi họ quay lưng đi, bay về cuối trời. Để lại ánh sáng lấp lánh từ hàng ngàn ngôi sao nhỏ.

Trước khi tan biến đi, tôi nghe thấy tiếng vọng từ giọng hát nàng triệu hồi tôi về một miền xa vắng.

March 3, 2017  Leave a comment

Kết thúc để bắt đầu

Nào, chúng ta hãy cùng đến với những gì hấp dẫn nhất của văn chương.

Điều gì làm cho văn chương thú vị? Chính là vì nó luôn luôn từ chối.

Văn chương hay ở chỗ chúng ta không cách gì hiểu cho trọn vẹn. Một tiểu thuyết thực sự lớn sẽ khước từ bất cứ cơ hội nào để được nhìn nhận đến tận cùng; các nhân vật được tạo ra, các tình tiết được mang đến, các nút thắt, các đoạn mở… tự bản thận chúng đòi hỏi một sự đánh giá đi đánh giá lại; mỗi câu chuyện đều sẵn sàng mang đến cho mỗi người đọc một cửa vào, đôi khi giống nhau hoặc khác nhau, và đưa họ đến một cửa ra, đôi khi cũng giống hoặc khác nhau, nhìn chung là tuỳ vào độc giả, có thể có cả nghìn cánh cửa như vậy, những giao cắt vô tình hữu ý trên những cánh cửa mở ra và đóng lại đó mang độc giả lại gần nhau hơn (trên khía cạnh cảm xúc, cảm nhận), những cũng đồng thời đưa chúng ta ra rất xa nhau. Đọc là việc hết sức cá nhân, mỗi chúng ta đều có một cửa vào và một cửa ra của riêng mình. Còn hơn cả thế, mỗi một lần đọc lại quyển sách nào đó, rất nhiều khi chúng ta sẽ tìm ra một đường vào khác, và đi ra ở một cánh cổng khác, có hoặc không các giao cắt với lần đọc cũ, mở ra cho chúng ta rất nhiều cảm nhận mới mẻ. Đừng ngạc nhiên khi thấy chúng ta nhìn một nhân vật ở lần này khác hẳn so với lần trước.

Đi vào một quyển sách, cũng như đi vào bản thân, là việc phải từng chút từng chút một, đi qua rất nhiều ngã rẽ, đôi khi sai đường, mà nói chung làm gì có đường nào gọi là đúng, con người vốn dĩ tràn ngập mâu thuẫn. Nhưng đồng thời con người cũng vô cùng nhất quán, bởi lẽ chúng ta chỉ đi loanh quanh trong cái bản thể của mình, trong cái vòng tròn số phận của mình. Bản chất con người nhất quán trong một sự mâu thuẫn tuyệt đối.

Cùng với văn chương, thi ca cũng nuôi dưỡng cho nó sự từ chối thấu hiểu đến tận cùng tương tự, và cả âm nhạc cũng vậy. Tất tần tật đều giống như nhau hết. Cả ba thứ này (có lẽ còn có những thứ khác) đều đến từ những tầng sâu của con người. Có trải nghiệm viết một chút, tôi biết rằng một nhà văn cũng có thể hoàn toàn không, và cũng không cần thiết, thực sự thấu hiểu tuyệt đối tác phẩm của mình. Đôi khi giọng nói ở bên trong nói rằng phải viết “điều ấy”, phải kể câu chuyện đấy, một cách phi lý trí nhất có thể, và mọi thứ cứ tự diễn ra thế thôi. Văn chương từ chối sự hiểu từ bất kỳ ai, ngay cả từ chính người viết ra chúng.

Con người với nhau cũng vậy, chúng ta cũng duy trì một sự từ chối thấu hiểu một cách tự nhiên, một cách bản năng. Con người không phải để hiểu. Chúng ta chỉ có thể nhận thức được các hiện tượng (người này thích điều này, thích điều kia, anh này thích đọc văn, thích đá bóng vv) và từ đó phỏng đoán ý nghĩa của các hiện tượng đó (thích đọc sách tức là kiểu người này, thích đá bóng tức là kiểu người kia). Chúng ta nhìn nhau qua các phỏng đoán. Bản thân các phỏng đoán cũng đầy rẫy những sự vô căn cứ, những sự mơ hồ. Cũng đừng ngạc nhiên khi phần lớn thời gian con người nhầm lẫn về nhau hết. Mọi thứ chỉ là phỏng đoán, chỉ là hiểu lầm. Con người không phải để hiểu, chúng ta chỉ có thể “cảm nhận”. Khái niệm tương đối gần điều này nhất có lẽ là thấu thị. Để hiểu một con người, thực ra đúng hơn là để “lại gần”, hãy nhìn họ. Nhưng nhìn không phải là “nhìn”. Chúng ta hiểu lầm một con người chủ yếu do chúng ta nhìn vẫn chỉ là nhìn, chứ không phải là nhìn.

Cứ bình tĩnh, mọi chuyện không phức tạp đến thế.

Khi chúng ta bỏ đi ham muốn chân chính thấu hiểu một con người, thì mọi sự trở nên tột cùng đơn giản.

Đối với Đinh Hùng, mỗi con người là một hành tinh (Anh sẽ tìm em như tìm một hành tinh/Mặc trái đất sắp tan vào mộng ảo). Tôi cũng cho rằng như vậy. Con người, cũng có thể là một vũ trụ nữa, với đầy rầy những sự mâu thuẫn, bí ẩn, không lời đáp của nó. Con người cũng có thể chẳng là cái gì.

Hình như từ đầu tôi định nói đến một việc khác, nhưng lại lan man đến chuyện con người. Tôi sẽ trở lại với nó ngay sau đây.

Quyển sách của năm của tôi trong năm 2016 chắc chắn phải là Tôi nói gì khi tôi nói về chạy bộ của Murakami. Một phần lớn ý thức hệ của tôi đã được củng cố từ tinh thần của quyển sách này. Những người follow tôi sẽ còn nhớ những gì tôi nói về nó, có lẽ là những thứ khả dĩ đáng kể nhất mà tôi từng huyên thuyên trong cả năm nay.

Còn quyển sách của năm 2017, dù mới bắt đầu năm thôi, tính tới hiện tại phải là Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng thế giới. Đây cũng là quyển sách từ chối sự thấu hiểu đến tận cùng.

Tôi đọc quyển sách này vì một lý do rất riêng tư, và cũng rất tình cờ. Tôi đã có ý tưởng viết Bóng từ trước đây, cho đến khi tôi biết được rằng Xứ sở kỳ diệu vô tình là một tiểu thuyết mang nhiều khái niệm và ẩn dụ thực sự hay về chiếc bóng (the shadow). Tôi quyết định sẽ đọc nó để tìm cảm hứng, và khác với các tiểu thuyết nặng ký khác của Murakami mà tôi thường đọc hàng tháng trời, tôi đọc quyển này trong vẻn vẹn vài ngày. Đọc ngấu nghiến và bị hút vào trong nó theo đúng nghĩa đen.

Đây là một câu chuyện tuyến tính về hai tuyến nhân vật (thực ra chỉ là một người, theo cách nhìn của tôi); một người đi về nơi kết thúc, người kia đi về nơi bắt đầu. Nơi kết thúc có tên gọi Xứ sở kỳ diệu, nơi bắt đầu là Tận cùng thế giới. Đây là một điểm đặc sắc và tinh tế, nghịch lý nhưng cũng đầy ẩn ý bậc thầy, của tác giả. Kết thúc của Xứ sở kỳ diệu (nhưng) vô tình, với những con người có tâm hồn, có mục đích (thậm chí dã tâm, tham vọng) là Nơi tận cùng thế giới, một thành phố bất khả xâm phạm có tường thành vây quanh, với những con người chấp nhận bỏ đi tâm hồn của mình, giết chết cái bóng của mình, để sống, hay tồn tại theo một chức năng duy nhất, một vai trò duy nhất đã được định sẵn. Nói tới đây, hãy nhắc đến một ẩn dụ về chiếc bóng: “Muốn nói gì thì nói, bóng là cái ở gần người ta nhất”, chiếc bóng chính là bản thân chúng ta, ở một thể hiện khác. Nơi tận cùng thế giới là nơi của những con người mất bóng. Sự kết thúc của Xứ sở kỳ diệu vô tình mở ra sự bắt đầu của Nơi tận cùng thế giới.

“Cái chết là có thực, nó không phải là đối nghịch của cuộc sống, mà là một phần của cuộc sống.” – Rừng Nauy.

Hãy cho rằng sự tuyến tính của câu chuyện này có liên quan đến triết lý nổi tiếng nhất về cái chết của Rừng Nauy, mặc dù Xứ sở kỳ diệu vô tình là tiểu thuyết thứ tư Murakami viết, sau Cuộc săn cừu hoang và trước Rừng Nauy. Tôi cho rằng Murakami đã vô tình phát hiện ra một cách nhìn về cái chết trong khi viết Xứ sở kỳ diệu vô tình, và sau khi hoàn tất nó đã cắt riêng phần này đi để tiếp tục triển khai thành tiểu thuyết thứ năm của mình. Toàn bộ Rừng Nauy có vẻ chỉ là một sự mở rộng theo một hình thái biểu hiện khác của Xứ sở kỳ diệu vô tình.

Cả hai xứ sở đều có Tình yêu, và đều thuần phác. Tình yêu giữa nhân vật ở tuyến một với cô gái thủ thư là thứ tình yêu mang đến sự giải thoát để tìm về cõi chết, Tình yêu giữa nhân vật ở tuyến hai với cô gái, cũng là một dạng khác của thủ thư thư viện; hai cô gái này về bản chất chỉ là một người ở hai thể hiện khác nhau; là Tình yêu đã níu kéo lại gã này trước ý định chạy trốn khỏi Thành phố, đồng nghĩa với việc quay trở lại hố sâu địa ngục của Xứ sở kỳ diệu mà chính gã vừa từ đó thoát thai. Hai thế giới này có chung cổng vào là chiếc đầu lâu của con thú một sừng. Ở Tình yêu thứ nhất, gã đàn ông trao cho cô gái chiếc đầu lâu rồi chết đi, thực chất là trao cho số phận của gã. Ở Tình yêu thứ hai, gã đàn ông thông qua chiếc đầu lâu chở “giấc mơ xưa” để tìm lại linh hồn cho cô gái. Cái gì kết thúc ở thế giới này sẽ tìm lại ở thế giới kia theo một cách thể hiện khác. Cái chết nối dài cho sự sống mới. Chỉ có Tình yêu là vẫn thuần phác như vậy. Tình yêu dẫn đường cho gã đi vào chính mình. Xứ sở kỳ diệu vô tình là thế giới rộng lớn bên ngoài của nhân vật chính, còn Nơi tận cùng thế giới chỉ là thế giới ở bên trong của gã.

Theo dòng sáng tác, Xứ sở kỳ diệu vô tình là tiểu thuyết thứ tư của Murakami; tôi chưa đọc Lắng nghe gió hát (tiểu thuyết đầu tiên) và Pinball (tiểu thuyết thứ hai), nên không dám chắc lắm, nhưng rất có thể Xứ sở kỳ diệu vô tình là tiểu thuyết đầu tiên Murakami viết theo lối tuyến tính – lối viết đã trở thành kinh điển của Murakami mà sau này sẽ gặp rất nhiều ở Kafka bên bờ biển và đặc biệt là 1Q84. Ngoài tuyến tính trên khía cạnh các nhân vật khác nhau, sự tuyến tính về thế giới song song ở Xứ sở kỳ diệu vô tình cũng dường như đặt nền móng cho sự xuất hiện dày đặc các thế giới song song sau này trong các cuộc hành trình kỳ quặc của phần lớn tiểu thuyết Murakami: Nhảy nhảy nhảy, Biên niên ký chim vặn dây cót, Người tình Sputnik, 1Q84… Những thế giới song song nhưng cũng giao cắt, hoặc dần dần chập vào một.

Xứ sở kỳ diệu vô tình dường như có một ý nghĩa hết sức đặc biệt trong việc sáng tác của Murakami. Quyển tiểu thuyết này trao cho Murakami một quyền năng đặc biệt, giúp ông mở ra những cánh cửa cho mình. Những tiểu thuyết sau này của Murakami, tôi cho rằng, phần lớn đều lấy từ những mảnh nhỏ nào đó trong Xứ sở kỳ diệu vô tình mà triển khai ra, kể cả những kiệt tác đồ sộ như 1Q84 đi nữa.

Xứ sở kỳ diệu vô tình có ẩn dụ về mọi thứ. Hay nói cách khác, mọi thứ ở đây đều là ẩn dụ, và đặc biệt nhiều. Ẩn dụ từ thiên nhiên: Rừng. Núi. Sông suối. Mây. Thời tiết. Ẩn dụ về Thành phố, đường hầm, lòng đất. Ẩn dụ về các thế lực: Con người. Thiên tài. Ma quỷ. Ẩn dụ về Thiện, Ác. Ẩn dụ về giấc mơ, về tâm hồn. Ẩn dụ về thú vật: Thú một sừng, chim chóc. Ẩn dụ về sự sống, cái chết. Mọi thứ đều là ẩn dụ, đều là khái niệm. Cuốn tiểu thuyết này là một khu rừng về ẩn dụ, trùng trùng điệp điệp. Ngay cả cách ví về khu rừng, cũng là một ẩn dụ nốt.

Chính vì cả cuốn sách là một sự ẩn dụ, nên nó chân chính từ chối những nỗ lực để hiểu cho trọn vẹn. Ở đây cần một sự thấu thị. Chính vì nó có quá nhiều cánh cổng vào mở ra, nên nó cũng đòi hỏi những sự đọc đi đọc lại nhiều lần.

Có lẽ là sự tình cờ, tôi đọc quyển tiểu thuyết này ở nửa cuối năm ngoái cho đến khi sang năm mới (lịch âm), giống như hai tuyến truyện của kết thúc và bắt đầu vậy. Quyển tiểu thuyết này cũng thực sự chạm đến tôi nhất ở những góc sâu khuất rất khó động đến, không phải chỉ bởi vì cái giao cắt nhất định đối với Bóng, hay những triết lý mang tính bản lề mà tôi sẽ còn kế thừa được rất lâu sau này, mà còn ở một cái nhân duyên nào đó từ một cánh cửa đã mở ra, rốt cuộc cũng để tôi đi vào chính mình, ở một tầng sâu hơn từng biết đến.

“Cioran dạy tôi rằng muốn suy nghĩ thì phải ở chiều ngang. Và qua rất nhiều điều không liền lạc với nhau, tôi hiểu ra ông ấy muốn dạy cho tôi một điều rất quan trọng: đọc có ba cấp độ, cấp độ một là đọc để biết những điều mình chưa biết, cấp độ hai là đọc để biết rằng những gì mình tưởng là đã biết hóa ra mình còn chưa biết, nhưng cấp độ ba mới là đỉnh cao, đọc là để biết rằng những gì mình tưởng còn chưa biết hóa ra mình đã biết rồi, chỉ là chưa bao giờ học được cách lôi nó ra từ sâu thẳm đâu đó bên trong con người bí ẩn muôn trùng, tức là bản thân chúng ta.” – Nhị Linh

Văn chương, xét cho cùng là để chúng ta đi tìm từng chút một những mảnh vụn của mình (câu này cũng là ý của Nhị Linh nốt).

Tôi thích tiểu thuyết này của Murakami bởi lẽ ông đã viết một cách rất thoải mái, dù đề tài mà ông tiếp cận (sáng tạo ra một thế giới mới, thế giới ở bên trong) không hề nhỏ, thậm chí nó thực sự lớn. Phạm vi quy mô của những chủ đề mà cuốn sách này tham vọng nói đến rộng lớn vô cùng, và tôi tin rằng nó lớn hơn cả khả năng, bút lực của ông thời đó (quãng 1985, chỉ vài năm sau cái tuổi hai mươi chín khi Murakami quyết định trở thành nhà văn); nhưng ông đã xoay sở một cách nhẹ nhàng để đưa mọi thứ ở trong tầm kiểm soát và vẫn đạt được đến mức độ chất lượng cao cho từng thứ mà ông muốn nói đến. Về sau bút lực mạnh mẽ hơn, và liên tục đẩy giới hạn sáng tạo của mình lên nhưng đôi lúc Murakami vẫn sẩy chân một cách phí phạm. Đọc thêm về cú thất bại của Murakami với 1Q84 tại đây.

Đây là một tiểu thuyết hết sức vô khuyết, nhưng cũng đừng coi nó là một thứ hoàn hảo. Về sự hoàn hảo, bản thân hai xứ sở trong cuốn truyện này cũng là thể hiện của hai thế giới hoàn hảo, nhưng chính trong sự hoàn hảo đó có mầm mống của đổ vỡ, của sự bất toàn. Nơi tận cùng thế giới thiếu linh hồn, còn xứ sở kỳ diệu vô tình thì thiếu ước mơ.

Thế giới hoàn hảo bởi sự bất toàn như thế.

February 1, 2017  Leave a comment

Bóng

Chiếc máy bay vụt lên tầng không đúng lúc nhạc mở bài Snow (Hey oh) của Red Hot Chili Peppers, một giai điệu sôi động, phấn khích. Cùng lúc đó, tôi cũng đang đọc đến đoạn nhân vật chính ở tuyến thứ hai của cuốn tiểu thuyết Xứ sở kỳ diệu vô tình và nơi tận cùng thế giới tìm được nhạc cụ trong khu nhà kho ở trong rừng. Rất nhanh chóng, máy bay rời bỏ thành phố, vượt lên làn sương mỏng ngăn cách không khí nặng nề tù đọng ở phía dưới với lớp chân không nhẹ bỗng ở bên trên. Tôi bắt đầu cảm thấy lơ lửng, trọng lực dường như quên mất vai trò của nó mỗi khi máy bay lướt nhẹ trên không. Nhìn ra cửa sổ, thành phố đã hoàn toàn luẩn quất sau mây. Chiếc máy bay nằm trọn vẹn trong những đụn mây khổng lồ mịn màng. Bốn phía là mây, trải rộng đến vô cùng. Có cảm giác thực ra máy bay cứ đứng im một chỗ như thế, lười biếng nép mình vào những đám mây dịu dàng, trôi dạt đi bởi gió chứ không còn bay nữa. Ở trên mây, mọi thứ đều trở nên lặng lẽ, uể oải. Có một cảm giác cực kỳ hạnh phúc khi nghe Snow (Hey oh) ở thời khắc máy bay lướt lên không trung; thêm nữa, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết kỳ thú mà tôi đang đọc cũng tìm được chiếc nhạc cụ, chính xác là một chiếc Phong cầm (mà về sau chiếc Phong cầm này có vai trò chìa khoá quan trọng), làm tôi cảm thật tương hợp giữa cả ở ngoài đời và trong sách. Âm nhạc tràn ngập không gian xung quanh tôi theo đúng nghĩa đen, chúng ngấm vào từng tận tế bào, lan đến từng mạch máu, trôi vào sâu thẳm tâm hồn.

Tôi đang bay về nhà để ăn Tết.

Máy bay không còn một chỗ trống, sân bay chật ních người, phần lớn trong đó là người Việt cũng đang háo hức về ăn Tết như tôi. Mắt họ lấp lánh một niềm hạnh phúc xum họp. Đã quá lâu rồi họ chưa trở về nhà chăng? Từng đoàn người hồi hương về xum họp trong lịch sử loài người đều là những cuộc di cư vĩ đại. Như những cánh chim thiên di tránh rét rồi trở về, chúng ta không được phép quên nguồn. Tuổi trẻ có cái khao khát hăm hở đặc trưng, đó là: Đi! Đôi khi là chạy trốn, chối bỏ, chán nản chính nơi chốn mình sinh sống, thèm khát được ra đi, được theo thuyền đón sóng, lênh đênh trên những cuộc hành trình mới mẻ, trôi dạt về đâu cũng được. Nhưng bên cạnh cái háo hức của Đi, sau những cuộc dấn thân ngật ngưỡng vào cuộc đời, nhựa sống tuổi trẻ đã bị bào mòn đi ít nhiều nhiệt huyết, người ta sẽ có một tâm lý bồn chồn ngang ngửa, đó là Về! Văn chương đã nương tựa vào hai đầu của cuộc hành trình bản chất nhất của con người mà hoài thai ra rất nhiều kiệt tác.

Tôi nhập vào đoàn người trở về lê thê ấy.

Chuyến bay kéo dài hơn một tiếng rưỡi đồng hồ, tôi có từng đó thời gian để kết thúc nốt cuốn tiểu thuyết của mình.

Tôi đã biết Hà Nội hôm nay sẽ không lạnh ngay từ khi chập chờn nhìn thấy nắng phát tán dưới tầng mây gần mặt đất nhất. Murakami bảo người ta hiểu đôi chút về thời tiết, nếu ngày nào cũng theo dõi các chuyển động của mây; tôi thì vừa ở trên mây xuống, nên tôi không bất ngờ trước cái nóng nực của mùa đáng lẽ ra phải là Đông đang không ngừng chói chang bốn phía. Mùa đông năm nay quá độ sớm quá, những mùa đông kỳ quặc cứ ấm dần lên và qua đi thật nhanh làm người ta sửng sốt có thật sự còn mùa đông hay không, hay nó chỉ làm một biến thể của mùa gì đó lai giữa mùa thu và mùa xuân, hay mùa xuân và mùa hạ, hay là một sự trộn lẫn của cả ba, để rồi tạo thành một thứ mùa rất không có màu sắc. Cái mùa đông bàng bạc khiến người ta run rẩy yêu nhau đã không còn nữa, kéo theo nó những sự xa nhau rất đỗi vô tình.

Nhưng mặc kệ cái nắng nóng phi lý, không khí Tết vẫn thấm đẫm từ cả lớp sương mỏng bao trùm thành phố ở trên cao. Tết làm người ta vội vã hơn, tất bật hơn, nhưng đồng thời cũng làm người ta tử tế hơn. Tôi thấy những kẻ cứ ra rả đòi bỏ Tết cổ truyền đều là những kẻ ngu xuẩn. Lý lẽ của họ đều có vẻ hợp lý, đôi khi hợp lý đến giả dối, nhưng người ta quên mất một điều là Tết, trong phạm vi khái niệm bản chất nhất của nó, vốn dĩ chẳng có gì xấu. Quốc gia nào mà chẳng có ngày lễ Tết của mình? Chính con người và những thứ bày vẽ phù phiếm xung quanh Tết mới làm cho nó trở nên xấu xí đi. Trong một năm có vài tuần tự dưng vật giá leo thang hẳn lên đến mức phi lý, dịch vụ thì đi xuống, xong rồi con người lao vào vòng xoáy của cúng bái, lễ lạt, bon chen gồng gánh trong những sự chuẩn bị phung phí để có một cái Tết “đủ đầy” dù họ biết rõ rằng những thứ hình thức như vậy chỉ là họ một nghèo nàn đi. Cái chúng ta cần đâu phải là bỏ Tết đi, chúng ta cần là phải bỏ hết hủ tục đi đấy chứ. Mà mặc kệ lũ người ngu xuẩn đang bi kịch hoá Tết đi, hoặc thống thiết kêu gào phải gộp chung Tết này Tết nọ, tôi thấy chúng rặt là một lũ rởm đời. Khi chúng ta chọn nhìn vào cuộc đời bằng cái nhìn đầy bi kịch, thì cuộc đời xung quanh cũng sẽ chỉ ngập tràn bi kịch. Tôi vẫn luôn nhìn vào Tết bằng đôi mắt háo hức đã in hằn vào ký ức bé thơ, dù đã không còn bé nữa. Khác với mọi người cứ luôn tất bật, tôi chỉ đơn giản tận hưởng Tết theo cách nhẹ nhàng nhất.

Về đến nhà, đã được dọn sạch tinh tươm bởi mẹ (thật là biết ơn mẹ!), cùng một số đồ đạc cũ đã được tống khứ đi, căn nhà trông trống hoác hẳn đi so với kiểu của tôi vẫn ở. Mẹ thậm chí còn cắm một lọ hoa để trên bàn, càng làm nó không giống kiểu của tôi ở hơn. Nhưng dù sao bó hoa rất đẹp, mang đến một sắc thái mới mẻ lạ lẫm. Nhờ có mẹ qua chăm sóc hộ mà căn nhà này không có vẻ một căn nhà vô chủ đã lâu mà vẫn có mùi của con người. Cảm giác của tôi giống hệt như cảm giác của nhân vật chính trong Xứ sở kỳ diệu vô tình khi trở về nhà sau một cuộc đi vào lòng đất tối tăm, khủng khiếp; căn nhà đã được một “lực lượng vệ sinh” bí ẩn chu đáo dọn sạch từ bãi chiến trường (sau này nhân vật chính phát hiện ra người dọn nhà cho gã là cô thủ thư ở thư viện, khởi đầu cho một tình yêu oái ăm nhưng cũng rất đẹp). Thấy nhà cửa ngăn nắp khi trở về là một cảm giác tuyệt vời.

Nhưng tôi biết căn nhà này cần nhiều hơn thế để có cảm giác là nhà tôi. Nhìn quanh một lát, tôi định sẽ chạy đi mua một cành đào rừng trang trí để có không khí Tết, và giăng đèn neon các thứ nữa. Hôm nay là hai mươi chín Tết. Không phải quá sớm cho các việc mua sắm nữa. Tôi quyết định sẽ chẳng mua gì cả. Dẹp hết mấy trò đào, quất với cúng bái lễ lạt đi, tôi chỉ muốn cái Tết này sẽ thật nhẹ nhàng và nhẹ nhàng. Cần gì cứ phải có đào, quất thì mới có Tết cơ chứ. Bà ngoại tôi không may qua đời vài tuần trước nên Tết này nhà tôi sẽ hầu như chẳng đi đâu chúc Tết ai cả. Ngoài một số người thân thiết, tôi không có nhu cầu đặc biệt phải gặp ai (các Tết trước tôi vẫn đều đi thăm anh em bạn bè khá đầy đủ), nên về cơ bản thì tôi sẽ có bốn ngày Tết hoàn toàn nghỉ ngơi. Có lẽ tôi sẽ chỉ dọn dẹp qua nhà cửa một chút, chuẩn bị ít bánh kẹo trong trường hợp nhà có khách, mua một ít rượu, đón con mèo về, thay ga gối; đã đến lúc phải thay ga gối rồi, tôi cần một cái mùi khác trong căn nhà mình, mùi hương – đôi khi chúng mang ý nghĩa rất gần với linh hồn, phải, tôi cần căn nhà có một diện mạo khác, một linh hồn khác, nó đã quá cũ kĩ; và chuẩn bị dăm cuốn sách để đọc. Tôi không nghĩ ra việc gì đặc biệt hơn để làm nữa.

Tôi chạy ra phố một lúc, cái nắng nóng giờ tan tầm đã tiêu tan bớt đi bởi không khí lạnh khe khẽ tràn về. Hai chín Tết nhưng ngoài đường vẫn đông đúc đến đáng ngạc nhiên. Mọi người hối hả, tấp nập, nhưng không ai căng thẳng như người ta vẫn hay kêu ca. Tôi mang bộ chăn ga gối mới từ mẹ về và đón cả ChiChi. Lần này về thì chỉ còn mỗi ChiChi thôi, tôi bỗng thấy nhớ Tuti da diết, nó còn chưa có nổi một cái Tết đầu tiên. Về đến nhà, tôi nhanh chóng thay bộ ga gối cũ, vứt hết đống quần áo bẩn vào máy giặt, đốt tinh dầu lên, xịt phòng, cho mèo ăn, bật nhạc. Căn nhà đã có dáng vẻ của tôi hơn. ChiChi hoảng hốt một chút lúc đầu khi mới về rồi sẽ quen ngay với địa bàn mới, nhanh chóng lăn ra ngủ. Mùi tinh dầu toả ra khắp nhà mang lại khoái cảm dễ chịu. Không gian tôi sống cứ phải có một chút mùi hương dụ hoặc thì mới chịu được. Đã xong hầu hết mọi việc quan trọng, tôi đột nhiên rất thèm uống rượu vang nên khui một chai dở ở trên kệ xuống, mang ra sofa nằm đọc sách. ChiChi vừa tỉnh ngủ, đang lục lọi gì đó ở xung quanh. Mùi của mèo là một phần trong linh hồn của ngôi nhà này. Âm thanh có sức sống nhất ở đây là tiếng gừ gừ của mấy con mèo khi chúng yên tâm dựa dẫm vào người tôi ngủ. Nhạc đang chơi của Regina Spektor, album Essentials, vang lừng cả không gian xung quanh, tẩy trần đi không khí trầm mặc. Căn nhà đã tiếp nhận tôi trở về.

Tôi ngồi ở sofa, uống vang đỏ, ăn thịt bò khô. Mặc kệ là thịt bò khô có hợp nhắm với vang đỏ hay không. Lần cuối tôi uống vang là đợt Lộc về Việt Nam mấy tuần trước. Chúng tôi uống vang, đôi khi uống lẫn cả whiskey pha đá lạnh, đến khi nói năng tếu táo thì đi ngủ. Những cơ hội ngồi với bạn thân như thế trong cuộc sống hiện đại càng ít, và càng đáng quý trọng. Tôi đọc nốt tiểu thuyết Xứ sở kỳ diệu vô tình. Đôi khi tôi thấy mình trong chính cuốn tiểu thuyết ấy. Có đoạn nhân vật chính cũng trở về nhà, cởi quần áo, chui lên giường và nhâm nhi whiskey. Đối với gã, đó là một nghi thức ngọt ngào khi đi làm về, là mấy phút đồng hồ yêu thích. Hắn cũng mang sách lên giường đọc và nghe nhạc như tôi. Gã yêu mấy phút ấy như người khác yêu mặt trời lặn hay yêu không khí trong lành. Một tiểu thuyết thật sự tuyệt vời. Tại sao tôi lại bỏ lỡ tiểu thuyết này của Murakami nhỉ? Nếu nói nữa thì tôi sẽ chỉ sa đà vào tán dương, nên tôi sẽ dành kể về cuốn sách nặng ký đầy thu hút này vào một lần sau. Regina Spektor đang hát đến The Call, bài hát tôi đã mê say từ rất lâu. Giọng của nàng da diết, sương khói, đầy ám ánh. It started out as a feeling, which then grew into a hope. Mọi thứ bắt đầu bằng một xúc cảm vu vơ, bỗng biến thành một niềm hi vọng lớn lao sau đó… Cuộc đời có khi đổi thay hoàn toàn từ những khởi đầu giản dị như thế. Những nhân duyên đã đến và sẽ đến. Chúng mình sẽ và chúng mình sẽ.

Chai vang đã hết. Đêm còn rất dài. Tôi quyết định uống nốt chỗ whiskey pha đá lạnh còn lại. Một cảm giác chập chờn xuất hiện. Ánh sáng trong căn phòng không hiểu sao tối dần, như thể ánh sáng đã bị rút đi đâu mất; thay vào đó là ánh trăng dội từ cửa sổ vào, nhưng tôi biết chắc là không hề có trăng ở ngoài kia. Ánh sáng vàng vọt phát tán vào từ bên ngoài trông rất giống ánh trăng, nhưng tuyệt đối không phải, nó chỉ là một thứ gì đó giống trăng mà thôi. Ánh sáng chiếu thẳng vào chỗ tôi ngồi, như thể đèn sân khấu chiếu vào người biểu diễn, khiến cho không gian xung quanh trở nên tăm tối. Tôi cũng không để ý lắm, cứ thế ngồi uống nốt chỗ whiskey còn lại. Chiếc bóng của tôi trải dài đến tận chân tường, nhờ ánh trăng (hoặc một thứ gì đó giống như ánh trăng) mà nó trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Tôi ngồi đó, lặng lẽ nhìn vào chiếc bóng của mình.

Cho đến khi tôi cảm thấy, chiếc bóng hình như không làm theo đúng các động tác của mình nữa.

Cụ thể là khi tôi nâng cốc whiskey lên để hớp cho cạn, cái bóng vẫn khoanh tay ngồi đó nhìn tôi.

Nó cứ nhìn chằm chằm vào tôi, như lúc nãy tôi nhìn chằm chằm vào nó.

Cũng có lẽ tôi đã uống quá nhiều whiskey, nhưng rõ ràng là tôi không thể nhầm được. Chiếc bóng vẫn ngồi đấy, cái tư thế vừa xong của tôi, và nhìn chằm chằm vào tôi. Hay là cái bóng đã bị đóng băng, hoặc giả nguyên lý ánh sáng thế nào đó đã khiến cái bóng không thể di chuyển được theo chính chủ của nó nữa nhỉ?

Tôi chịu không hiểu nổi, bản thôi tôi cũng không dám chắc có thực ở đằng trước mặt mình là cái bóng hay không; mọi thứ cứ lấp loá bởi thứ ánh sáng le lói chiếu rọi từ ngoài vào, làm tôi không phán đoán nổi tôi đang nhìn vào cái gì, đang ngồi ở đâu nữa. Có thể tôi đã ngủ rồi cũng nên.

Nhưng tôi thấy không thoải mái lắm khi ở đằng trước là cái bóng đen cứ nhìn chằm chằm vào mình, tôi còn cảm giác nó đang thiểu não nữa, y hệt nỗi thiểu não của tôi, nên tôi quyết định thử đứng dậy, biết đâu sẽ thoát khỏi cái ảo giác whiskey này. Cái bóng vẫn ngồi đấy. Nhưng rất chậm thôi, nó từ từ đứng dậy, dối diện với tôi.

Tôi biết là sẽ phải chấp nhận sự kì quặc này. Hay là ma chăng? Tôi vốn vô thần nên không tin vào ma quỷ lắm. Ma quỷ chỉ là khái niệm. Con người tạo ra ma quỷ chính là từ nỗi sợ hãi của mình. Nhưng cũng có thể có ma thật, ai mà dám chắc được. Nhất là trước mặt tôi đang là một cái bóng đen kì quặc cứ chằm chằm nhìn mình. Nhưng nếu có là ma thì tôi cũng đếch quan tâm. Ma quỷ mà là phản vật chất thì nó cũng sẽ chẳng làm gì được mình, còn nếu là vật chất thì tôi sẽ dễ dàng đấm chết nó, nếu quả thật nó cân bằng với người về mặt sức mạnh. Tôi trở nên ít sợ ma quỷ ,cái chết hơn sau khi chứng kiến người ta bốc mộ ông bà tôi vài năm trước. Đêm đó, tôi ngồi giữa cánh đồng, canh mộ của hai ông bà để chờ đến giờ làm lễ và thay áo quan. Nửa đêm rất lạnh, bãi tha ma đông nhung nhúc các ngôi mộ liền kề, nhưng tôi không hề thấy sợ hãi, thậm chí còn gà gật được. Có lẽ ông bà tôi đã phù hộ yên lành cho tôi chăng. Trong tôi chỉ ngập tràn một nỗi nhớ tiếc ông bà khi còn sống, và niềm thanh thản khi được ở gần ông bà vào đêm đó đến vậy.

Cái bóng đen của tôi nhìn tôi một lúc, rồi nó lặng lẽ bước đi, mặc cho tôi sửng sốt đối diện. Bóng đi khắp phòng khách, sờ mó vào khắp nơi, ở chỗ nào cũng tỏ ra luyến tiếc, đau khổ. Tôi ái ngại thay cho nó. Rồi tôi thấy nó đứng rất lâu ở trước bếp; bỗng ôm lấy một cái bóng khác, bóng của một người phụ nữ bỗng đâu xuất hiện, từ đằng sau, cũng được tạo ra từ ánh trăng vàng vọt ở bên ngoài. Hai chúng nó có vẻ quấn quít. Một lúc sau, chúng buông nhau ra, rồi bắt đầu xoay xở ở bếp để làm gì đó thoăn thoắt mà tôi hiểu là đang nấu nướng. Hai cái bóng cứ nhảy nhót quấn quít như thế, trong khi vẫn làm các động tác trông rất giống như thái thịt hoặc chiên xào gì đó. Hẳn là một bữa thịnh soạn. Tôi vừa sợ hãi vừa tò mò cứ ngây dại nhìn ngắm hai cái bóng ngu xuẩn không biết ở đâu ra làm hết trò này đến trò khác ở nhà mình. Nhưng nhìn ngắm chúng, tôi nhớ đến một thời quá vãng xa xôi mà ký ức của mình đang trở nên mờ mịt hết cả.

Một trong hai cái bóng biến mất, chỉ còn lại bóng của tôi. Nó ra bàn ăn ngồi một mình, lặng lẽ nhìn vào chiếc bình mang tro cốt của con Tuti ở góc tủ. Rồi tôi thấy bóng của con Tuti nhảy lên lòng nó, kêu gừ gừ rất thật. Bóng của Tuti hơi khác một chút, không đen kịt như bóng của tôi mà có hình dáng màu sắc hơn hẳn. Nói cho đúng ra, bóng của Tuti dần trở thành một phiên bản của chính nó, không phải bóng nữa, mà là hình thật, với lớp lân tinh le lói bao phủ xung quanh lớp lông bóng mượt của nó. Tôi dần nhìn thấy bộ lông của nó, đôi mắt của nó, đôi tai vểnh ngược lên của nó, và cái đuôi dài như đuôi cáo tuyệt đẹp của nó, rõ ràng như thể nó đang thực sự ở đây. Tôi thấy bóng của tôi cầm con chuột đồ chơi lên vứt sang một góc, tức thì Tuti sẽ lao theo ngay để nhặt lại, tha về chỗ cũ. Đây là trò mà tôi vẫn hay chơi với con Tuti, không phải con mèo nào cũng biết tha hồ về chỗ cũ như vậy. Rồi tôi thấy Tuti nhảy nhót, đùa giỡn với chiếc bóng của mình. Tuti chạy đến đâu thì đám lân tinh bao quanh nó đi theo đến đó, làm rực sáng cả một góc phòng.

Khi Tuti biến mất, đám lân tinh kia cũng dần tan biến vào hư không. Đôi mắt của Tuti biến mất sau cùng, nhìn thẳng vào tôi, tròn xoe ngơ ngác, như lần đầu tiên tôi mang nó về nhà.

Tôi mệt mỏi ngồi thụp xuống sofa. Chai vang và whiskey lăn lóc. Tôi với lấy cốc whiskey đã tan ra vì đá, húp cho cạn nốt dù không còn gì. Những ký ức nặng nề đè nặng xuống vai tôi, sức nặng của nó khiến không khí xung quanh cũng trở nên cô đặc, ngột ngạt. Tôi mở cửa ra cho thoáng dù không có một cơn gió nào. Ánh trăng vẫn xanh xao ở đằng xa, chiếu vào tôi yếu ớt, nhưng xuyên thấu tâm trạng tôi một nỗi cực cảm vô bờ.

Chiếc bóng ngồi xuống đối diện tôi, tiếp tục nhìn chằm chằm vào mình. Tôi và nó, như hai cái bóng, nhìn chằm chằm vào nhau như hoá đá, dù tôi biết tôi chẳng thực sự nhìn vào cái gì. Tôi chỉ thấy lấp lánh một nỗi buồn thảm trong ánh nhìn của nó, soi vào đó tôi còn thấy mình buồn thảm hơn. Rồi tôi nhận ra chiếc bóng đen kịt của mình dần có hình dáng, nó không chỉ là một chiếc bóng phẳng dẹt nữa mà đã hoàn toàn trông giống con người, hay là giống chính tôi. Lớp da thịt của nó đổi sang màu hồng, đôi mắt của nó phát sáng ấm áp trong đêm, tôi thậm chí dường như còn nhìn thấy nó mấp máy cười qua chuyển động rất khẽ ở làn môi. Bóng đặt một tay lên vai tôi. Tôi đưa tay ra chạm vào nó. Nhưng bàn tay tôi đã không còn sức nặng thông thường nữa mà trở nên nhẹ bẫng. Tôi thấy mình biến dần thành một màu đen kịt.

Có thể tôi đã trở thành chính chiếc bóng của mình. Trong khi nó biến thành tôi. Nếu thế thì khi ánh trăng kia không còn nữa, tôi sẽ biến mất chăng. Điều đó ngang gì là cái chết? Mà nếu chết thì sao, tôi càng không quan tâm. Đã từ lâu, ham muốn được chết của tôi cũng lớn như ham muốn được sống, đôi khi còn lớn hơn. Như Murakami nói, bản thân cái chết không làm tôi sợ lắm. Như lời Shakespeare: Ai chết năm nay thì năm sau khỏi phải chết. Tôi không có quá nhiều thứ đặc biệt phải luyến tiếc ở cuộc đời này, thế thì có gì đáng sợ đâu? Người ta ai cũng phải chết kia mà, nhất là khi tôi có thể sẽ chết khi đã trở thành cái bóng của cái bóng của mình, như thế thì lại tuyệt đối không có gì đáng tiếc.

Cái bóng đặt tay lên tôi, tôi biết là nó muốn an ủi cho những vết thương tôi đã mang trong lòng. Nhìn rất sâu vào đôi mắt đang trở nên đen kịt của tôi, ánh mắt của nó soi chiếu đến tận cùng sâu thẳm tâm hồn còn sót lại chưa bị đóng băng đen kịt. Tôi thấy đôi mắt của nó toả ra một đám lân tinh nhỏ rực rỡ như những ngọn lửa, dịu dàng phủ xuống quanh tôi như những thiên sứ phúc lành.

Ánh trăng yếu dần rồi tắt hẳn. Bóng của tôi thoi thóp dần rồi biến mất trong hàng vạn điểm lân tinh rơi rớt. Màu đen kịt trên cơ thể tôi biến mất, trả lại hình dạng nguyên thuỷ con người cho tôi.

Whiskey bắt đầu phát huy tác dụng. Tôi biết là mình không thể cưỡng lại được nữa. Cơn buồn ngủ xâm chiếm dữ dội như cuộc xâm lăng của người ngoài hành tinh khác. Tôi bị kéo tuột vào giấc ngủ như rơi xuống vực thẳm. Tiếng kêu của con Tuti là âm thanh cuối cùng tôi kịp nghe thấy.

Ở ngoài kia ngập tràn cái âm thanh ấy, âm thanh của im lặng.

Sáng hôm sau thức dậy, tôi biết mình đã trở thành một người khác. Bóng cũng là người mà người cũng là bóng. Cái bóng đã không còn tách rời tôi nữa.

Ngôi nhà này cần có linh hồn.

Tôi đi tìm linh hồn cho nhà mình.

Biết không em…

February 1, 2017  Leave a comment

Phương

Trên chuyến bay hôm ấy, tôi đã nghe toàn bộ nhạc của Lê Uyên Phương. Cứ lúc nào cần tìm một thứ gì đấy, tôi lại nghe Phương. Một thứ gì đấy, nếu ai nghe hoài hoài thứ nhạc khắc khoải lo âu của gã trai giang hồ phiêu bạt, sẽ hiểu. Âm nhạc của Phương tràn đầy một sự giục giã. Giờ này còn nhìn nhau, ngày mai ta không còn thấy nhau.

Nơi đây, khoảnh khắc này, và ký ức.

Mười năm kể từ nghe tân nhạc; khởi sự bằng Trịnh, tôi đã nương theo dòng chảy tình ca mà tiến tới rất nhiều tri kỷ. Dòng chảy ấy lần lượt cuốn vào trong nó những lời thống khổ của Trầm Tử Thiêng, Từ Công Phụng, Phạm Đình Chương, rồi chầm chậm đưa đẩy tôi về miền đồi nắng gió Đà Lạt để gặp Phương, tri kỷ sau cùng.

Mang trong người dòng máu giang hồ của thân phụ, ở tuổi đôi mươi, Phương đã đi bôn ba khắp miền duyên hải, làm đủ mọi nghề để kiếm sống, trước khi trở về lại Đà Lạt và khởi sự sáng tác. Âm nhạc của Phương là âm nhạc dành cho những tâm hồn trôi dạt, để kệ cuộc đời lặng lẽ cuốn đi. Tôi không có thiện cảm mấy với những kẻ sắp xếp cuộc đời ngăn nắp, cầu toàn, toan tính định trước, bám víu vào sự an toàn, cả đời chỉ ở trong một thứ; tôi luôn thấy ở họ nỗi sợ hãi những sự thay đổi, mà lại còn cực kỳ nhàm chán. Tôi chỉ thấy thu hút với những kẻ vứt bỏ cuộc đời mình trên những con thuyền lênh đênh dạt sóng, những kẻ bất quy tắc, những kẻ chấp nhận dấn thân, vượt ngoài khuôn khổ. Những kẻ trôi dạt liều lĩnh ấy chẳng còn gì để mất, nên đồng thời cũng chất chứa rất nhiều chân thật.

Phạm Duy nhận xét âm nhạc của Phương là thứ âm nhạc không mang tham vọng lớn, hoàn toàn thuần tuý chỉ là âm nhạc của dục tình. Tôi cũng thấy những kẻ mang tham vọng lớn thật là thống thiết, họ cứ cố leo lên cao mãi, đôi khi xảy chân vào vực thẳm cuộc đời không sao trồi lên lại nổi. Ngược lại, những kẻ mong ước nhỏ nhoi, thậm chí không mang tham vọng, cứ thản nhiên đi theo bản năng vẫy gọi, lại rất nhiều khi dựng xây được những kỳ tích phi thường. Lê Uyên Phương chính là nhạc sĩ lớn nhất của Việt Nam, nhạc sĩ tuyệt đối, nếu chỉ xét về phương diện tình. Phương đã sáng tạo ra hẳn một dòng nhạc; trước chưa có dòng nhạc nào như thế, sau này cũng không có dòng nhạc nào như thế, chân chính biểu trưng cho tình yêu ở mức độ cao nhất, và thuần tuý nhất, của nó – dục tình.

Tôi nhớ đến Phương của quãng thời gian rạo rực tuổi trẻ, ngồi lặng lẽ bên Lê Uyên trên đồi thông Đà Lạt, trao cho nhau những hẹn thề nắng gió. Thời đó gã giang hồ đã gần ba chục tuổi đầu, chẳng còn lành lặn sau những đổ vỡ và phiêu bạt đường đời, mang trên mình rất nhiều vết thương, bỗng phải lòng cô bé con gần nhà, lúc đó mới ở tuổi đôi mươi, còn ham bay nhảy; mà không biết rằng đó chính là thú đau thương định mệnh sẽ đi theo suốt kiếp. Chúng ta có Phương từ lúc đó. Nhưng mầm mống bệnh tật, cùng cấm cản nghiệt ngã của gia đình, đã không cho chàng được tự do yêu đương, nỗi ám ảnh chia lìa đã yểm vào âm nhạc của Phương những lời ca vùng vẫy, tuyệt vọng, càng khiến cặp song ca tài tử đó quấn quít nhau hơn trên sân khấu, và trong những nốt nhạc. Chàng ôm đàn, nàng hát, tình tứ như trong cuộc ái ân. Cuộc tình trốn chạy và hạnh ngộ mười lăm năm từ thủa hồng hoang Đà Lạt ấy đã hoàn tất cuộc đời khắc khoải của gã trai giang hồ trong những bản tình ca buồn bã.

Mỗi khi thấy mình chấp chới lo âu, tôi lại nhớ đến Phương. Tôi đã không biết là Phương sẽ có ý nghĩa đối với mình như thế, cho đến khi âm nhạc đó nói cho tôi hiểu, những đổ vỡ, đắng cay chỉ là để thú đau thương được nếm trải đến tận cùng.

Cho tôi yêu em nồng nàn
Cho tôi yêu em nồng nàn
Dù biết yêu tình yêu muộn màng
(Tình khúc cho em)

February 1, 2017  Leave a comment

Lân tinh

Lân tinh

“Céline có một quan niệm rất đơn giản về bất hạnh: nhìn chung, ta chẳng bao giờ thực sự biết về bất hạnh của người khác, nếu người đó vẫn ngủ được, thì chẳng có gì là bất hạnh cả, chỉ cần ngủ, mọi thứ còn lại không mấy ý nghĩa” – (Nhị Linh).

Một giờ đêm, không ngủ được, tôi quyết định ra ngoài đi bộ. Lần cuối cùng tôi thực sự bị mất ngủ, tháng bảy thì phải, cũng không gần đây lắm. Còn rất ít thứ có ý nghĩa đến mức có thể khiến ta trằn trọc ở trên giường. Mọi thứ vô nghĩa bị đốt thành tro bụi ngay khi mặt trời lên. Nắng mới là thứ có khả năng tàn sát thảm khốc. Chỉ cần ngủ, mọi thứ còn lại không mấy ý nghĩa, vì khi thức dậy chúng ta đã trở thành một người khác. Giấc ngủ cuốn trôi đi hết thảy. Những dư âm thoáng chốc của ngày hôm qua.

Tôi rẽ trái ở ngã tư, đi thẳng đến một nơi tôi chưa từng đến bao giờ, ngang qua nhiều ngõ nhỏ đặc biệt tối. Tôi trở nên không còn e dè bóng tối nữa khi đã nằm trong cái bóng tối tuyệt đích của đường hầm trong ngôi chùa Thanh Thuỷ ở Kyoto. Hai bài By the wayCalifornication của Red Hot Chili Peppers được ngẫu nhiên bật liền nhau. Xác suất để hai bài tôi thích nhất được bật liên tục là vô cùng thấp, mới chỉ có một lần; thế mà đêm nay chiếc iPhone lại chiều tôi như vậy. Tôi đã từng nói là giữa tôi và chiếc điện thoại có một mối quan hệ tâm linh nào đó, trong hầu hết trường hợp nó thường biết tôi muốn nghe gì, để hoặc là nâng tôi dậy hoặc là dìm tôi hẳn xuống đáy – như thế nào thì cũng đều tốt cả vì sợ nhất là cứ trôi ở lưng chừng. Chúng ta lost nhất là bởi không ngã hẳn về bên nào mà cứ chới với ở chỗ không có điểm tựa ấy. Nếu đã rơi thì hãy rơi đến tận cùng. Chính ở dưới đáy giếng là nơi Toru tìm ra đường hầm để đi vào một thế giới khác, thế giới bên trong của Kano Creta (Chim vặn dây cót). Đêm nay, trong cái tâm trạng cuồng loạn rất cần tìm đến Rock, tôi chỉ muốn qua khu Ratchada và ném mình vào một quán bar nào đó có nhạc sống chơi đến muộn và uống bia lạnh, bết xê lết được thì càng tốt. Anthony Kiedis đang hát đến bài Parallel Universe. Không cách gì hiểu được âm nhạc của Red Hot Chili Peppers trọn vẹn. Âm nhạc của họ có mọi thứ. Đại đa số các bài hát được Anthony Kiedis viết từ khi còn trẻ, nói về ma tuý, nghiện ngập, tình dục, phân biệt chủng tộc, và đặc biệt là cái chết vì Anthony đã chứng kiến những người bạn thân của mình lần lượt ra đi. Âm nhạc của Red Hot Chili Peppers đi rất gần với xã hội hippi thời đó, một thứ âm nhạc chán chường nhưng không u uất, tuyệt vọng.

Tôi bỗng nhớ đến cái đêm lang thang trong rừng ở Seinäjoki. Tháng mười hai, tuyết phủ lạnh lẽo, chúng tôi đi party về vào đêm thứ Bảy, khật khừ đến nỗi không còn nhớ rõ lối đi. Thay vì về nhà, tôi bỗng có cái ham muốn ngồi ở bìa rừng ở phía sau lưng khu tập thể. Lũ sóc đã đi ngủ cả. Con suối đã dần đóng băng. Từng hàng bạch dương khẳng khiu oằn mình trong bão tuyết. Tôi phong phanh ngồi đó, giữa cái lạnh âm, không còn nhớ rõ mình đã tỉnh hay thức, nghĩ về tuổi trẻ tự do vô định của mình. Thời đó tôi vẫn còn nghe Coldplay. Giọng của Chris Martin da diết, “You are… you are… you are… Home, where I wanted to go. Home, where I wanted to go…”. Tôi nằm trên tuyết, hơi thở đóng băng ngay trên không khí, nhắm mắt lại. Tôi đã may mắn không thiếp đi ngay tại bìa rừng để rồi trở thành một người tuyết khô khốc vào hôm sau, nhưng tôi cũng không nhớ đã về nhà như thế nào.

Tôi quyết định đi thẳng mãi, vượt qua những ngã tư không có bóng con người. Chỗ này đã cách nhà tôi khoảng hai cây số. Tôi sẽ đi bộ dọc hết con đường này để đến một nơi rộng rãi có thể nghỉ chân, hoặc cứ thế đi mãi. Tôi nhớ đến đoạn đi bộ giữa Naoko và Toru trong Rừng Nauy, một cuộc đi bộ lặng lẽ dài khủng khiếp dọc Tokyo, Naoko không nói gì cả. Họ đã đi bộ cùng nhau suốt những ngày cuối tuần của mùa hè năm ấy, trước sinh nhật tuổi hai mươi của nàng. Những vỉa hè đặc biệt nhỏ ở Bangkok, thảng hoặc đôi khi có những dãy cầu thang bắc ngang qua đường dành cho người đi bộ choáng hết cả làm tôi phải bước xuống lòng đường. Từng đoàn ô tô và xe phân khối lớn vùn vụt lao qua như ánh chớp. Phi nhanh đến mức tạo thành một gia tốc lạnh lẽo chỉ chực hút thẳng người ta vào trong nó. Màn đêm mang đến những cạm bẫy vô hình. Rất đột ngột, từ phía đằng sau của tôi vụt lên một cô gái; có lẽ từ ngã tư bên kia rẽ sang. Nàng bước song song với tôi, không hề do dự. Tôi đang chìm đắm trong âm nhạc của Red Hot Chili Peppers, nghe Anthony hát Road Trippin’ xa vắng; “It’s time to leave this town. It’s time to steal away, let’s go get lost anywhere in the USA…”. Đoạn riff từ chiếc guitar gãy đôi trong video của bài này mang đầy tính giục giã chạy trốn. Tôi và cô gái không quen cứ thế bước đi bên cạnh nhau. Tôi thấy không thoải mái, ngại thì đúng hơn, một cô gái xa lạ đi cạnh mình giữa đêm, thế mà nàng lại thản nhiên như không. Tôi đã cố tình đi chậm lại một bước, nàng cũng đi chậm lại, tôi đi nhanh hơn, nàng cũng đi nhanh hơn. Tôi chịu thua. Thôi được, thích đi cùng cũng được, đằng nào thì tôi cũng chỉ đang đi bộ thôi. Đèn vàng hắt xuống hai chiếc bóng của chúng tôi trải dài trên phố. Nhạc đang chuyển sang Easily. Calling calling for something in the air. Calling calling I know you must be there. Nàng không hề quay sang nhìn tôi. Tôi cũng gần như không liếc nhìn nàng. Chúng tôi là hai kẻ lữ hành lững thững nhất thế giới. Màn đêm dày đặc ở xung quanh. Khi đi sau nàng một chút, tôi để ý nàng mặc chiếc áo để lộ toàn bộ lưng trần. Hoàn toàn không mặc áo ngực. Tay nàng buông thõng. Nhìn theo đường cong phập phồng trước ngực thì có thể quả quyết phía sau lớp áo cực kỳ đáng phấn phởi. Tóc nàng ngắn sau tai một chút. Đó là tất cả những gì tôi biết sau một phần mười giây liếc vội sang bên. Có lẽ ở giữa màn đêm thẳm này thì một kẻ xa lạ là tôi còn an toàn hơn một gã vô gia cư nào đó, dù sau một cuộc rượu chuếnh choáng với bạn bè lúc nãy thì tôi trông cũng không khác một gã vô gia cư cho lắm. Nhưng nàng đã chọn tôi để đi cùng, những điều vô lý vẫn thỉnh thoảng xảy ra như thế. Tôi đang phân vân sẽ bắt đầu một cuộc hội thoại ngu ngốc như thế nào thì trước mặt tôi là một ngã tư nữa. Nàng không hề giảm tốc độ lại cho tôi biết là nàng sẽ tiếp tục đi tiếp. Chần chừ một lát, tôi quyết định đi lên trên cầu thang đi bộ. Chúng tôi chia tách nhau từ lúc đó. Đêm còn rất dài, tôi thực ra đang muốn ở một mình để tiêu tán đi nỗi buồn không tên được chuốc bởi whiskey và đá lạnh. Ở trên cầu thang nhìn xuống, tôi thấy nàng hơi khẽ liếc sang một chút rồi bước đi thẳng. Chiếc bóng của nàng biến mất rất nhanh ở cuối đường. Anthony bảo với tôi, “… I’m left alone in another zone” (This Velvet Glove). Tiếng guitar bass vang lên chát chúa kéo thốc tôi vào lãnh địa vô hình của nó.

Tôi rẽ ngang qua một ngõ nhỏ tăm tối, nơi sẽ dẫn tới một quảng trường rộng lớn nối liền bến tàu điện trên cao với những dãy nhà cao tầng. Ở dưới chân một khu tập thể cũ có hai con mèo đen đang uể oải ăn đêm. Tôi thử bắt chuyện với nó, rất ngạc nhiên một trong hai con chạy ngay lại. Lũ mèo hoang ở Bangkok thường chẳng mấy khi để ý đến con người. Tôi phải hết sức vất vả nịnh nọt thì mới có thể vuốt ve được chúng một lúc, thế nhưng nàng mèo đen này thì lại thân thiện đến sửng sốt. Tôi nhận ra là mình thèm chơi với mèo. Lũ mèo hoang ở Bangkok tinh ranh ma quái hơn lũ mèo hoang béo múp và đặc biệt thân thiện với người ở Kyoto nhiều. Mèo hoang du đãng ở Bangkok luôn luôn cảnh giác, dù đã nằm yên trong lòng người. Chúng có vẻ là giống mèo hơn cả. Tôi vuốt ve nó, đôi lúc nó đứng yên, đôi lúc chỉ trực lao đi, tôi nhận ra là lũ mèo hoang đặc biệt giống mình. Về cơ bản thì lũ mèo là loài thế nào cũng được. Bạn vuốt ve chúng cũng được, mà không để ý đến chúng cũng không sao. Lũ mèo không thực sự coi điều gì là quan trọng cả, chúng cũng không coi lũ người thực sự là người. Nhưng chúng vẫn là sinh vật cực kỳ đáng yêu. Tôi nhớ đến hai con mèo của tôi đang gửi ở nhà mẹ nuôi hộ. Chúng tôi đã xa nhau quá lâu rồi. Con mèo đen vẫn quấn quít dưới chân tôi, con còn lại chỉ hờ hững đứng từ xa nhìn. Một điều nên biết, mèo đen là loài đặc biệt tinh khôn trong giới nhà mèo! Chúng luôn bình tĩnh, điềm đạm, nhìn mọi vật với con mắt dò xét kín đáo. Vẻ đẹp của mèo đen là vẻ đẹp của con báo nhỏ đang kiên nhẫn rình mồi. Tôi đứng lên, vờ bước đi để xem nó có chạy theo tôi không. Nó chạy theo, bước đi cùng tôi một đoạn. Một con mèo đen hết sức thú vị, có lẽ đã lâu nó đã không gần con người. Tôi dừng lại, nó lại quấn lấy chân tôi, và như ngứa răng, cắn vào gấu quần tôi nghịch ngợm. Có thể nhận ra rất nhiều thứ từ việc cắn của một con mèo; về cơ bản thì lũ hung hăng này không thật lòng muốn cắn con người lắm, trừ khi hết sức tức tối. Nó cứ gặm lấy gấu quần của tôi, rồi đột ngột cắn một nhát vào mắt cá chân tôi đau điếng. Ôi cha, một miếng cắn thật sự là cắn. Miếng cắn dằn mặt thể hiện sự hả hê hết mức của nàng mèo đã lâu lắm không có sự quan tâm của con người. Nàng cắn rất ngọt. Tôi khập khiễng bước đi, nó vẫn theo tôi; tôi đã yên tâm là mình lại có kẻ đồng hành thì nàng đột ngột dừng lại rồi quay ngoắt. Lũ mèo là thế, ta không thực sự biết được đến lúc nào thì chúng nó không cần ta nữa. Màu đen của nó hoà lẫn rất nhanh vào màu đen của ngõ vắng rồi khuất hẳn. Nó biến mất nhưng cái đau từ vết cắn vẫn ở đây. Từ bé đến lớn, trên người tôi vô số vết sẹo từ mèo cắn. Đôi khi, những vết xước dài trên tay gợi lại cho ta những ký ức ngọt ngào.

Quảng trường rộng lớn nằm giữa một đại lộ bốn phía là nhà cao tầng. Đây là địa điểm mà ban ngày sẽ thu hút rất nhiều học sinh đến chụp ảnh kỷ yếu và từng nhóm bạn bè cosplay chụp ảnh tấp nập. Nghệ sĩ đường phố cũng thỉnh thoảng vác đàn ra hát ở đây, thứ âm nhạc trẻ thịnh hành dành cho thanh niên. Vậy mà đêm nay chỉ có mình tôi. Đứng giữa quảng trường đón gió, từng hàng xe vẫn chạy vùn vụt ở dưới đường, tôi như vẫn thấy hàng trăm linh hồn đang nháo nhác chung quanh. Một vẻ yên tĩnh mà vẫn vang vọng lại rất nhiều tiếng động. Tôi dựa lưng vào lan can, nhìn xuống đường. Ánh đèn từ hàng trăm chiếc xe dọi lại như những chùm lân tinh lập loè trước mặt. Một không khí cực kỳ cô liêu. Tôi thấy nỗi cực cảm của mình. Red Hot Chili Peppers chơi Purple Stain. Chad Smith như đang lên đồng. Đoạn solo trống dài như một bản trường ca trong bài này vô cùng lừng lẫy, đã làm tôi ngây ngất đến thắt ngực.

Nếu đi tiếp thì sẽ hoàn toàn lạc lối. Cơn buồn ngủ cũng đã dần xâm chiếm tôi rồi. Tôi chuếnh choáng bước xuống đường để quay trở về. Ma lực từ những ánh chớp xe cộ bên đường vẫn tiếp tục quyến dụ tôi, nhưng tôi đã đi sát lề trái để ngăn chặn cơn ham muốn lao mình qua đường bất chợt. Gió lộng lẫy ở trên cao. Tôi bước lên trạm BTS để có thể nhìn ngó thành phố trong phút chốc. Ba giờ sáng. Những tiếng lao xé gió của xe cộ phía dưới làm rách toạc màn đêm. Tôi đứng ở lan can, nhìn xe vùn vụt qua. Bỗng có ham muốn nhảy xuống mãnh liệt. Độ cao khoảng hai mươi mét vẫn dụ dỗ không ngừng. Trong đầu tôi luẩn quẩn những câu thơ của Vi Nhất Tiếu…

Chính là em
vầng dương nào vẫn đỏ
trên đỉnh sầu oan nghiệt của chia phôi

“trên đỉnh sầu oan nghiệt của chia phôi…”, tôi lẩm bẩm, như những dòng thần chú mặc niệm. Ký ức vụt qua lạnh lẽo. Chính ở lúc đó, tôi nhìn thấy một cô gái, cũng đứng ở phía bên kia lan can như mình.

Tôi không rõ nàng đã ở đó tự bao giờ vì lúc tôi lên đây thì chỉ có một mình. Chỉ biết là khi tôi ngẩng lên thì đã nhìn thấy nàng ở đó rồi. Giống như tôi, nàng nhìn chăm chăm xuống đường. Nàng mặc một chiếc váy ngắn tối màu, áo sơ mi thuỷ thủ, tóc dài thả trôi, bồng bềnh sương khói. Mặt nàng lộ liễu một ham muốn nhảy xuống còn rõ ràng hơn tôi. Tôi cứ đứng đó, kinh ngạc nhìn nàng. Ở khoảng cách này, nếu thực sự nàng muốn nhảy xuống thì chắc chắn tôi cũng không thể kịp chạy đến được. Tôi bỗng thấy như mình bị đặt vào tình thế là chứng nhân cho một kẻ sắp kết liễu cuộc đời mình, mà chỉ ít phút trước chính tôi cũng có khao khát đó. Nhưng tôi lại thấy mình không thể nói, cứ như thể giọng nói đã rời bỏ tôi rồi, họng tôi khô khốc. Tôi nhìn nàng, trong đầu vẫn không ngừng niệm chú. Xin đấy, đừng nhảy có được không! Tôi muốn nói như vậy, nhưng ngôn từ đã tan biến mất từ trước khi nó được thốt ra rồi.

Nàng quay sang phía tôi.

Mắt tôi nhìn thẳng vào mắt nàng, hoặc một cái gì đó giống như là mắt nàng; vì ở khoảng cách này cùng sự nhá nhem đồng loã của bóng tối, tôi không thực sự rõ đồng tử của nàng ở đâu nữa. Nàng đứng bất động ở đó, chằm chằm nhìn tôi. Nàng tuyệt đẹp. Một vẻ đẹp rực rỡ sẽ làm điêu đứng mọi ánh mắt nhìn. Tôi không thấy một cảm xúc nào trên gương mặt nàng cả, chỉ chăm chăm nhìn vào cái thằng tôi đang đờ đẫn ở trước mặt. Tôi muốn lắc đầu với nàng, ý muốn nói với nàng là đừng làm thế, nhưng một cử động nhỏ tôi cũng không làm được. Ánh nhìn của nàng lặng lẽ, xuyên thấu. Tôi bỗng hiểu ra, nàng không thực sự nhìn tôi, mà nhìn xuyên qua tôi. Ánh mắt của nàng không phải là ánh mắt của con người trên cõi đời này, dù vẻ đẹp của nàng vô cùng trần thế. Ánh mắt của nàng như thôi miên, dụ hoặc, dù không có một tia ấm áp trìu mến nào toả ra từ đôi mắt sâu thẳm của nàng cả. Nhưng cũng không có một sự đe doạ nào trong ánh mắt lạnh lẽo ấy.

Nàng khẽ lắc đầu, vai nàng run lên một chút, rồi quay người bỏ đi.

Một điểm lân tinh từ ánh mắt nàng thoát thai, bay lơ lửng trong không trung và lẽo đẽo theo nàng. Đốm sáng nhỏ le lói ở đằng sau gày guộc như một linh hồn nhỏ, khuất dần rồi mất hẳn. Tôi nhìn theo nàng khuất bóng ở phía xa, nhưng ở chỗ nàng đứng như vẫn còn một vầng hào quang mờ mịt vô hình ẩn hiện. Một vài lân tinh rơi rớt lại, thoi thóp trong không trung, tắt dần ánh sáng. Tôi giơ tay đỡ lấy một linh hồn đang lịm dần ở gần mình như một con đom đóm nhỏ. Nó cũng dần tắt lịm trên tay tôi, tan biến.

Không còn gì bên cạnh. Tôi nhìn xuống đường, cũng chẳng còn bóng dáng xe cộ nào. Chỉ còn sự thăm thẳm của màn đêm.

Tôi trở về nhà.

Căn phòng của tôi đã được dọn dẹp sạch sẽ, làm tôi bỡ ngỡ phút chốc, bởi tôi thấy như mình đang lạc vào một căn phòng khác. Mùi không khí xung quanh cũng là một mùi lạ lẫm, tươi mới. Không còn những dư hương ấm áp từ đêm hôm qua nữa, tôi nghi hoặc một lúc rồi thở dài, ném mình vào chăn gối. Đằng nào thì vẫn là căn phòng ấy, tôi không thể miễn cưỡng được cơn buồn ngủ nữa, nó đã quá sốt ruột chờ tôi rồi.

***

Sáng hôm sau, tôi ngủ dậy, mở cửa sổ để cho không khí tràn vào căn phòng. Ánh nắng chiếu qua rèm cửa rực rỡ.

Ở giữa phòng, một điểm lân tinh nhỏ lơ lửng trong không trung, toả ra thứ ánh sáng ấm áp nhiệm màu.

Điểm lân tinh từ từ hạ xuống thấp dần, rơi rớt thành hàng ngàn lân tinh nhỏ, rồi tan biến giữa hư không.

Tôi đã trải qua một giấc ngủ dài không mộng mị.

December 20, 2016  2 Comments

Niềm vui phục vụ

Thailand's King Bhumibol Adulyadej (far right) plays the saxophone during a jam session with legendary jazz clarinetist Benny Goodman (far left) and his band in New York on July 5, 1960. The king is an accomplished musician as well as a composer. This year marks the world's longest reigning monarch's Golden Jubilee, and American jazz legends such as the Count Basie Orchestra, Herbie Hancock, and Wayne Shorter have recently come to town to perform in his honor. (AP Photo)

Thailand’s King Bhumibol Adulyadej (far right) plays the saxophone during a jam session with legendary jazz clarinetist Benny Goodman (far left) and his band in New York on July 5, 1960. The king is an accomplished musician as well as a composer. This year marks the world’s longest reigning monarch’s Golden Jubilee, and American jazz legends such as the Count Basie Orchestra, Herbie Hancock, and Wayne Shorter have recently come to town to perform in his honor. (AP Photo) – Source

Với tất cả sự tôn kính và yêu thương, tôi dành bài viết nhỏ này cho Thái Lan – đất nước mà tôi đã sống và làm việc một cách vui vẻ, nhiệt thành nhất trước tuổi 30

Trong cuốn du khảo Đà Lạt một thời hương xa của Nguyễn Vĩnh Nguyên, chương nói về Nhất Linh rất nhiều xúc động. Về sau, con trai của ông là Nguyễn Tường Thiết đã hồi tưởng về thời gian cha ông ở Đà Lạt và gọi nó là quãng thời gian đẹp nhất trong đời Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam. Khoảng thời gian mà Nhất Linh sống chạy trốn thực tại thất bại trên trường chính trị, lui về sống đời thoát tục và đắm chìm vào tình yêu cái đẹp – thú chơi lan.

Về sau, nếu cuộc đời đủ thú vị đến mức để cho tôi thư nhàn rảnh rỗi mà viết một cuốn hồi ký chẳng hạn, tôi cũng muốn nhớ đến những năm tháng 2016 sinh sống và làm việc tại Bangkok, Thái Lan như một quãng thời gian tươi đẹp trong tuổi trẻ của mình, trước tuổi 30.

Bangkok, Thái Lan.

Tôi muốn nói trung thực một điều rằng tôi biết ơn đất nước Thái Lan và con người Thái Lan. Quãng đường khởi nghiệp của tôi có lẽ sẽ không phát triển nhanh đến thế nếu tôi không có cơ hội được dấn thân vào thị trường Thái Lan và sinh sống, làm việc cùng họ.

Tôi may mắn được làm việc trong một Tổ hợp công nghệ giáo dục đầy tham vọng. Nếu chỉ hai năm trước thôi, Tổ hợp vẫn chỉ tập trung vào một thị trường duy nhất, thì hiện tại chúng tôi đã mạnh dạn cắm cờ tại thêm 3 quốc gia khác. Việc mở rộng sang Thái Lan là một trong những quyết định chiến lược đúng đắn nhất. Với bản thân tôi, điều này cho tôi cơ hội được đối diện với những thử thách lớn trên phương diện quản trị nhân sự và phục vụ khách hàng. Tôi đã có cơ hội học cách dùng nhân sự người nước ngoài, mà đối với startup vốn đề cao tính phù hợp văn hoá của nhân sự chứ không chỉ dùng người theo kiểu làm thuê sòng phẳng, thì bài toán này khó khăn hơn nhiều.

Gần hai năm phục vụ người Thái Lan, sinh sống và làm việc tại Bangkok, theo quan sát của cá nhân mình, điều tôi thấy cảm mến nhất về người Thái Lan đó là sự yêu đời và yêu nghề của họ.

Những người Thái Lan vui vẻ (nguồn ảnh: Google Images)

Tôi thấy người dân Thái Lan rất hạnh phúc và yêu đời. Để biết được một xã hội có hạnh phúc hay không, theo một cách ít hình thức nhất, hãy đơn giản là ra đường và quan sát, cảm nhận về tầng lớp nhân dân thấp nhất của xã hội.

Ở Thái Lan, kể cả những ông xe ôm, bán hoa quả dạo, bảo vệ, bán hàng dạo ngoài chợ… đều rất vui vẻ. Họ là tầng lớp vất vả của xã hội, nhưng tôi không thấy họ chán chường, mệt mỏi, bất mãn như tầng lớp tương tự tại Việt Nam. Trái lại, họ đều bình thản và nghiêm túc làm tốt nhất vai trò của mình.

Điều đặc biệt là, kể cả những người lái xe ôm hay bán dạo, họ đều luôn giữ thái độ đúng mực đối với khách hàng. Tôi thực sự cảm kích và biết ơn những người lái xe ôm đã đưa đón tôi đi tập gym hàng ngày. Trước khi lên xe, và sau khi xuống xe, bất kể có đi quãng đường xa hay ngắn đi nữa, họ đều gật gầu chào tôi một cách rất lê độ và khuôn phép, dù phần nhiều trong số họ là những người cao tuổi. Khi tôi trả tiền, họ luôn cúi đầu cảm ơn. Đến lần gặp thứ hai khi đón tôi (đã trở thành khách quen), cái cách họ đón tiếp tôi làm cho tôi cảm thấy thân thuộc và cảm mến một cách tự nhiên. Thái độ phục vụ của họ – những người xe ôm – cho tôi thấy một sự chuyên nghiệp đã được rèn luyện thành khuôn phép, chuẩn mực, mà không kiểu cách, và tôi cho rằng mọi thứ đều đến từ một cơ sở giản dị đó là tình yêu với nghề và sự hài lòng với cuộc sống.

Xe ôm tại Thái Lan đều mặc đồng phục và luôn thân thiện, niềm nở (ảnh: Google Images)

Xe ôm tại Thái Lan đều mặc đồng phục và luôn thân thiện, niềm nở (ảnh: Google Images)

Tình yêu với nghề. Nghe thì xa xỉ nhỉ. Vì một cái nghề như xe ôm thì có gì đâu mà yêu. Tôi không nghĩ là có rất nhiều ông xe ôm yêu nghề, hạnh phúc với cuộc sống tại Việt Nam. Nhưng điều này là có tại Thái Lan.

Nghĩ sâu sa hơn, thực ra tầng lớp thấp của Thái Lan duy trì được một thái độ phục vụ niềm nở đối với công việc đó là vì đa số họ đều hài lòng với cuộc sống. Xa hơn chút nữa, là họ tôn trọng bản thân mình. Thử nghĩ mà xem, thường thì tầng lớp thấp của xã hội thường hay chứa đầy bất mãn. Tại sao tôi lại phải làm cái nghề này? Đáng ra tôi phải làm cái này cái kia. Người Thái Lan không có tư duy này. Nếu họ chọn một nghề dịch vụ nào đó, họ sẽ vui vẻ hạnh phúc với nó, và ý thức được vai trò của mình để nỗ lực làm tốt nhất. Tư duy dịch vụ của người Thái Lan rất cao, trong bất kỳ mảng dịch vụ nào, từ cao cấp đến thấp cấp. Một người xe ôm sẽ ý thức được vai trò của mình, hẳn nhiên không phải thành phần thừa của xã hội, ngược lại hệ thống giao thông công cộng cần họ, nên điều này tạo được thành động lực cho họ nỗ lực trong công việc của mình.

Chúng ta sẽ cố gắng làm tốt công việc của mình nếu chúng ta biết là nó quan trọng.

Ý thức hệ về tinh thần dịch vụ của người Thái Lan có lẽ đã lên đến đỉnh cao. Đó không phải là văn hoá dịch vụ kiểu cách như người Pháp, hay cầu kỳ như người Nhật – mà cả hai tôi đều thấy rất kitsch. Văn hoá dịch vụ của người Thái Lan ở mức vừa phải, không khiến bạn ngại và tạo sức ép ngược về cung cách lên khách hàng, mà có thiên hướng tạo sự thiện cảm, gần gũi, một thứ gì đó đến từ trái tim.

Ở người Thái, có một ý thức rất rõ đến từ niềm vui được phục vụ. Họ ý thức được việc vì sao mình làm công việc này và phải phục vụ khách hàng ra sao, bởi khách hàng chính là nguyên nhân khiến mình tồn tại. Vì vậy phải phục vụ họ theo một cách công bằng nhất.

Họ làm được điều này, phải chăng vì Thái Lan là một dân tộc có niềm tin?

***
*

Dân tộc có niềm tin.

Chúng ta phải biết được rằng vai trò của Nhà Vua trong đời sống nhân dân Thái Lan lớn đến mức nào. Một tượng đài thực thụ, một trụ cột tinh thần đúng nghĩa đã nâng đỡ và làm chỗ dựa cho mọi người dân Thái Lan, từ đứa bé mới sinh cho đến các cụ già.

Nhà Vua của Nhân dân luôn ở đó, trong trái tim của mọi người dân.

Ngoài vai trò tinh thần của Nhà Vua, hầu hết người dân Thái Lan đều theo Tôn giáo một cách nghiêm túc, vì vậy đời sống tâm linh của họ luôn luôn hướng thiện.

Vì luôn có Nhà Vua và Đức Phật ở trong tim, người dân Thái Lan luôn sống với một đức tin trong sáng, lành mạnh.

Chính niềm tin đó, theo tôi, là sức mạnh nâng đỡ cho cả dân tộc.

Điều mà, đáng buồn thay, người dân Việt Nam chúng ta không còn nữa, hoặc đang mất dần đi, không cách gì cứu nổi.

***
*

Yêu đời và yêu nghề.

Có lẽ là điều mà tôi học hỏi nhiều nhất từ người Thái.

Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Công việc hầu như chẳng tránh được sức ép bao giờ. Tuy vậy, khi sống ở Bangkok nửa năm nay, chứng kiến con người lạc quan và yêu đời, tinh thần của tôi dần đạt đến một trạng thái “thiền” nhất định; mà ở đó tôi đã học cách tận hưởng cuộc sống nhẹ nhàng và bao dung hơn. Nỗi buồn vẫn thế, mất mát là không đổi, con người vẫn tiếp tục làm tổn thương nhau… có điều lạ lùng là niềm tin của tôi về những điều hạnh phúc sẽ đến lại mạnh mẽ hơn bao giờ.

Trên khía cạnh công việc, tôi cảm thấy yêu thêm cái mình đang làm. Tôi đang có niềm vui được phục vụ người Thái Lan chăng?

***
*

Góc nhìn ở trên chỉ hạn hẹp xoay quanh tầng lớp con người làm dịch vụ, vốn là một điểm mạnh đối với đất nước Thái Lan. Sẽ có người hỏi tôi vậy những điểm yếu của đất nước Thái Lan là gì và họ có không?

Tất nhiên là có. Tuy nhiên quan điểm sống của tôi gần đây đó là hãy nhìn vào những điểm tích cực, thay vì tiêu cực. Chúng ta là một dân tộc còn phải đi học hỏi cái tốt từ người khác rất nhiều, vì chúng ta chẳng bằng ai cả trên thế giới.

Vì vậy cho phép tôi chỉ nói đến những điều tốt đẹp .

October 14, 2016  2 Comments

Cõi tôi

“tôi ngồi trong cõi tôi, riêng
bên trong ghế lạnh, ngoài hiên bóng, rời
phòng tôi trần thiết gương người
tường sơn kỷ niệm, vách bồi dáng xưa
tóc người chảy suốt cơn mưa
ngực thơm hoa bưởi, môi đưa bão, về…”

***
*

Thật kỳ lạ, khoảng thời gian này tôi thèm muốn được viết. Một cách vô định, tôi không biết đích xác mình muốn viết điều gì, chỉ là thèm muốn được trút hết ra những dòng chảy suy nghĩ đang ứa tràn. Có lẽ tôi đang đợi cái khoảnh khắc trời định tương tự đã biến Murakami trở thành nhà văn để phát tiết những cảm xúc, suy nghĩ của mình chăng? Không biết nữa, nhưng khối lượng câu chữ tôi viết ra trong vài tháng gần đây có lẽ nhiều hơn cả vài năm gộp lại. Chừng đó là đã đủ chưa? Probably not.

Trong Rừng Nauy, Murakami đã viết về Gatsby vĩ đại với một ấn tượng đặc biệt. “Không có một trang buồn tẻ nào trong cuốn sách ấy”.

Tuổi mườì tám, cuốn sách yêu thích nhất của tôi là cuốn Nhân mã của John Updike, nhưng sau khi đã đọc nó một số lần, nó bắt đầu mất dần ánh hào quang ban đầu và phải nhường ngôi trên ấy cho cuốn Gatsby vĩ đại. Gatsby ở ngôi ấy một thời dài sau đó. Tôi thường rút nó ra khỏi giá sách mỗi lúc hứng chí và đọc một đoạn bất kì. Chưa bao giờ nó làm tôi thất vọng. Không có một trang buồn tẻ nào trong cuốn sách ấy.

Thời gian này, tổng kết lại, tôi nhận ra bản thân mình cũng có những cuốn sách muốn để vào ngăn riêng như vậy. Những cuốn sách mà mỗi khi đọc lại, không có một trang nào chúng làm tôi mệt mỏi. Ôi những cuốn sách, đôi khi chúng vang vọng một cách tự nhiên, nhưng lại đánh vào tâm thức ta như những hồi chuông cảnh tỉnh, cứu vớt và giác ngộ cho ta trên chặng đường tìm về với mình.

Tôi để chúng vào ngăn riêng. Hay một cách trang trọng hơn, đặt chúng vào ngôi đền tâm thức của mình. Để mỗi khi cơ hồ mệt mỏi, lại lần giở vài trang sách quen, như một nghi lễ hoài niệm.

Nghi lễ.

Các nhân vật của Murakami có một điểm chung đó là họ luôn có một “nghi lễ” cho riêng mình. Nghi lễ của Tengo là viết. Nghi lễ của Shimamoto là lau đĩa than nhạc Jazz. Trong 1Q84, nghi lễ của Aoname là stretching – một liệu pháp giải phóng bản thân.

Nghi lễ của tôi, là nghiêm cẩn đứng trước ngôi đền của mình, lặng lẽ đọc đi đọc lại những dòng tư tưởng mà tôi đồng cảm tuyệt đối, bằng một tình cảm nâng niu, trân trọng. Đó phải chăng là con đường tìm đến sự thanh thản của tôi chăng?

Ngôi đền đó, chính là cõi tôi.

Trong ngôi đền của tôi, hiện tại có 2 tác giả và 3 cuốn sách.

Phía nam biên giới phía tây Mặt trời – Haruki Murakami

Tôi coi quyển tiểu thuyết này là một thứ “kinh thánh” dành riêng cho đàn ông. Ở độ tuổi 17 đọc Phía nam biên giới sẽ có một cảm nhận khác, ở độ tuổi 27, rồi 37 đọc Phía nam biên giới sẽ lại có một cảm nhận khác, và cái cảm nhận đó sẽ trùng khớp với cuộc đời của một người đàn ông như Hajime. Tôi đã chiêm nghiệm được điều này.

Phía nam Biên giới, phía tây Mặt trơi - Murakami

Phía nam Biên giới, phía tây Mặt trơi – Murakami

Tôi nói gì khi tôi nói về chạy bộ – Haruki Murakami 

Riêng quyển này, tôi đã viết về nó nhiều lần, ở đây đây đây đâyđây. Chưa có quyển nào tác động đến hệ tư tưởng của tôi nhiều như quyển này, và tôi cũng đang nỗ lực sống một cuộc đời hàng ngày giống như Murakami vẫn sống – cuộc đời của tập luyện bền bỉ và cân bằng.

Tôi nói gì khi tôi nói về chạy bộ - Murakami

Tôi nói gì khi tôi nói về chạy bộ – Murakami

Đà Lạt một thời hương xa – Nguyễn Vĩnh Nguyên

Tôi đã viết về quyển sách này ở đây. Đây sẽ là quyển sách đưa tôi đến con đường nghiên cứu nghiêm túc về văn chương nghệ thuật Việt Nam giai đoạn cải cách, để từ đó tìm về nguồn cội của mình.

Đà Lạt, một thời hương xa - Nguyễn Vĩnh Nguyên

Đà Lạt, một thời hương xa – Nguyễn Vĩnh Nguyên

Ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, hay khi già dần đi, lại có một cuốn sách, hay một hệ tư tưởng, tác động đến bản thân ta, giúp ta đạt đến trạng thái giác ngộ cao độ. Các cuốn sách này tuy khác nhau về hình thái, tác giả, thời đại, nội dung… thì có điểm chung đó là bằng cách này hay cách khác đều dẫn lối để tôi trở về gần hơn với bản chất của mình.

Chẳng phải hành trình trở về bản thân, là hành trình quan trọng nhất của con người đó sao?

111016

(*): đề tựa là bài Chân dung, thơ Du Tử Lê

October 11, 2016  Leave a comment

« older posts newer posts »